Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Giao tiếp của người cao tuổi sống ở các trung tâm dưỡng lão" do nghiên cứu sinh Vũ Thúy Ngọc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Bình, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2019 (Mã số chuyên ngành: 9.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giao tiếp là điều kiện cơ bản để hình thành, duy trì và phát triển tâm lý, nhân cách cá nhân trong xã hội. Cùng với xu hướng già hóa dân số toàn cầu (theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc - UNFPA năm 2012, thế giới có khoảng 810 triệu người từ 60 tuổi trở lên và dự kiến đạt 2 tỉ người vào năm 2050), quy mô và tốc độ già hóa dân số tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng (khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số; dự báo đạt 18% vào năm 2030 và 26% vào năm 2050).

Mô hình trung tâm dưỡng lão (TTDL) tại Việt Nam phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc nhóm xã hội yếu thế này. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế và tiện nghi sinh hoạt tại các cơ sở còn nhiều hạn chế; đời sống tinh thần và hoạt động giao tiếp của người cao tuổi sống tại các trung tâm chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng. Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận người cao tuổi dưới góc độ y học (chăm sóc thể chất) hoặc xã hội học (an sinh xã hội). Khoảng trống nghiên cứu tâm lý học về giao tiếp của người cao tuổi sống trong môi trường đặc thù như trung tâm dưỡng lão vẫn chưa được giải quyết một cách chuyên biệt và toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, luận án nhằm phát hiện các biểu hiện cụ thể trong các thành tố giao tiếp của người cao tuổi sống tại các TTDL và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của nhóm khách thể này.

Giả thuyết khoa học

  1. Nhu cầu giao tiếp của người cao tuổi sống ở các TTDL chỉ ở mức trung bình; đối tượng giao tiếp tập trung chủ yếu vào những người cùng sống và làm việc tại TTDL; nội dung giao tiếp xoay quanh các vấn đề sức khỏe và cách ứng xử của mọi người xung quanh; hình thức giao tiếp chủ yếu là trực tiếp và phương tiện được sử dụng nhiều nhất là lời nói.
  2. Hoạt động giao tiếp của người cao tuổi tại TTDL chịu sự chi phối của các yếu tố chủ quan (độ tuổi, sức khỏe, tính cách, tự cảm nhận vị thế/vai trò bản thân) và các yếu tố khách quan (sự quan tâm của gia đình, họ hàng, sự quan tâm của TTDL, bạn cùng sống, cán bộ quản lý và cán bộ phục vụ).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các mức độ và biểu hiện của các khía cạnh (thành tố) trong giao tiếp của người cao tuổi sống ở các TTDL.
  • Khách thể nghiên cứu: 337 người cao tuổi sống tại TTDL, 20 cán bộ quản lý các cấp và 30 cán bộ phục vụ (điều dưỡng, y tá, nhân viên phục vụ, cấp dưỡng).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào 5 thành tố cấu thành giao tiếp (nhu cầu, đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện), khảo sát các yếu tố ảnh hưởng có chọn lọc và phân tích 3 trường hợp điển hình (không tiến hành thực nghiệm tác động).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 04 trung tâm dưỡng lão trên địa bàn Hà Nội, gồm 02 trung tâm tư nhân (Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Nhân Ái, Trung tâm dưỡng lão Diên Hồng) và 02 cơ sở nhà nước (Trung tâm Bảo trợ Xã hội 3 tại Tây Mỗ - Nam Từ Liêm, Trung tâm Bảo trợ Xã hội 4 tại Ba Vì).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

  • Nhu cầu giao tiếp: Robert C. Atchley (2000) khẳng định người cao tuổi có nhu cầu nhận được sự quan tâm, chia sẻ của gia đình, bạn bè và đề xuất các nhóm sở thích phù hợp; Zahava Gabriel và Ann Bowling (2005) chỉ ra phụ nữ cao tuổi có nhu cầu chia sẻ kinh nghiệm nhưng thiếu cơ hội bày tỏ; nghiên cứu của Đại học Chicago (2006) chỉ ra các hoạt động cốt lõi với gia đình và bạn bè; Jame A. Thorson (2008) phân tích mối quan hệ thân mật như tấm đệm chống lại sự biệt lập; Thomas Glass (2008) chứng minh giao tiếp xã hội làm giảm nguy cơ suy giảm trí nhớ ở người trên 65 tuổi. Bên cạnh đó, tổ chức Human Rights Space (HRS), chương trình SHARE tại châu Âu, Ann Bowling (2004) và Weiss (2005) đã làm rõ nhu cầu tham gia hoạt động xã hội và hoạt động tình nguyện của người cao tuổi.
  • Đối tượng giao tiếp: Jame A. Thorson (2008), Altergott (1988), Alan Walker (2004), Martin Pinquart (2000), nghiên cứu của SHARE, H.E. Bracey (1998) và Arnold Rose (1998) phân tích sự tương tác trong gia đình (vợ chồng, con cháu), vai trò của bạn bè đồng niên và sự tham gia vào các nhóm xã hội.
  • Nội dung giao tiếp: Well (1980) chỉ ra 75% cuộc giao tiếp giữa y tá và người cao tuổi ở viện dưỡng lão xoay quanh việc chăm sóc thể chất; Furlong (1998), Jon F. Nussbaum và Justine Coupland (2004), Ebersole và Hess (2012) nghiên cứu về việc trao đổi thông tin sức khỏe, tin tức chính trị - xã hội và nhu cầu hồi tưởng quá khứ (life review).
  • Hình thức và phương tiện giao tiếp: Jon F. Nussbaum và Justine Coupland (2004), Michael J. Leitner (2004), H.E. Bracey (1998) khảo sát thói quen sử dụng truyền hình, sách báo, internet và các hình thức gặp gỡ trực tiếp.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nhu cầu giao tiếp: Nguyễn Đức Truyền (1994), Viện Xã hội học (1996), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Hoàng Mộc Lan (2007), Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Bùi Thị Vân Anh (nghiên cứu về người nghỉ hưu tại Hà Nội) đã chỉ ra các nhu cầu cơ bản: động viên tinh thần, được tôn trọng, chia sẻ kinh nghiệm, giao tiếp tâm linh và hoạt động cộng đồng.
  • Đối tượng giao tiếp: Phùng Tố Hạnh (1994), Dương Chí Thiện (1994, 1999), Nguyễn Hải Hữu (1999), Nguyễn Thị Phương Lan (2003), Lê Ngọc Lân, Nguyễn Hữu Minh, Trần Quý Long (2011), Bế Quỳnh Nga (2001) làm rõ phạm vi tương tác trong gia đình, họ hàng, bạn bè và các tổ chức hưu trí, hội đoàn địa phương.
  • Nội dung giao tiếp: Thiện Nhân (2003), Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Phạm Khắc Chương (2006), Hoàng Mộc Lan và Hoàng Thúy Vi (2014), Bùi Thị Vân Anh xác định các chủ đề thường nhật: sức khỏe, đời sống gia đình, giáo dục con cháu, tâm linh và thời sự.
  • Hình thức và phương tiện giao tiếp: Nguyễn Xuân Cường và Lê Trung Sơn (2003), Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em (2005), Vũ Dũng (2015) khảo sát mức độ tiếp cận các phương tiện truyền thông và các rào cản khiến giao tiếp của người cao tuổi có xu hướng hướng nội.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trong nước trước đây chủ yếu là điều tra xã hội học đơn lẻ về mức sống, chính sách hoặc nghiên cứu người cao tuổi sống tại gia đình/cộng đồng. Luận án của tác giả Vũ Thúy Ngọc là công trình tâm lý học chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận hoạt động giao tiếp của người cao tuổi đang sinh sống trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung (trung tâm dưỡng lão nhà nước và tư nhân) theo hệ thống 5 thành tố và mô hình phân tích định lượng kết hợp định tính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kế thừa và phát triển các quan điểm tâm lý học hoạt động và tâm lý học xã hội:

  • Khái niệm giao tiếp: Tiếp thu quan điểm của K. Platonov, J. Gruere, H. Lasswell, B.F. Lomov (giao tiếp là tương tác liên nhân cách, đồng chủ thể), A.A. Leontiev (giao tiếp là dạng hoạt động đặc biệt có cấu trúc), Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn. Tác giả định nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người nhằm trao đổi thông tin, cảm xúc, có tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
  • Giao tiếp của người cao tuổi sống ở TTDL: Là sự tiếp xúc tâm lý giữa những người từ 60 tuổi trở lên sống trong các cơ sở nuôi dưỡng, chăm sóc với nhau và với người khác nhằm trao đổi thông tin, cảm xúc, tác động qua lại lẫn nhau.
  • Khung cấu thành giao tiếp: Gồm 5 thành tố cơ bản:
    1. Nhu cầu giao tiếp: Được chia sẻ, tâm sự; củng cố quan hệ; trao đổi thông tin/truyền đạt kinh nghiệm; được tôn trọng/đóng góp ý kiến; đồng cảm/giúp đỡ lẫn nhau; tham gia hoạt động xã hội; giao tiếp tâm linh.
    2. Đối tượng giao tiếp: Gia đình (vợ/chồng, con cháu, họ hàng); bạn bè; người làm công tác xã hội; những người cùng sống và làm việc tại TTDL (bạn cùng phòng, cán bộ quản lý, cán bộ phục vụ); các nhóm xã hội chính thức và phi chính thức.
    3. Nội dung giao tiếp: Nội dung thông tin, biểu lộ cảm xúc, nội dung công việc.
    4. Hình thức giao tiếp: Giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) và giao tiếp gián tiếp (qua điện thoại, internet, phương tiện truyền thông, tâm linh).
    5. Phương tiện giao tiếp: Ngôn ngữ (nói, viết) và phi ngôn ngữ (cử chỉ, ánh mắt, nét mặt, tư thế).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp phương pháp tiếp cận định lượng và định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Tổng hợp lý luận trong và ngoài nước.
  • Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia tâm lý học, giáo dục học để hoàn thiện tiêu chí, thang đo và bảng hỏi.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thực hiện khảo sát trên 337 người cao tuổi, 20 cán bộ quản lý và 30 cán bộ phục vụ tại 4 TTDL.
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận các hành vi, cử chỉ, biểu hiện giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày tại trung tâm.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp người cao tuổi, cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Phân tích sâu 3 cá nhân điển hình đại diện cho các hoàn cảnh, môi trường sống khác nhau tại TTDL.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS: tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha (cho các thang đo đối tượng, nhu cầu, nội dung, hình thức, tính cách, vai trò, sự quan tâm), phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính để dự báo mức độ tác động của các biến số.
Nhóm khách thể Số lượng (người) Đơn vị khảo sát
Người cao tuổi 337 TTDL Nhân Ái, Diên Hồng, BTXH 3, BTXH 4
Cán bộ quản lý 20 Ban Giám đốc, cán bộ quản lý các cấp tại 4 TTDL
Cán bộ phục vụ 30 Điều dưỡng, y tá, nhân viên chăm sóc, cấp dưỡng

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về giao tiếp của người cao tuổi sống ở trung tâm dưỡng lão

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về giao tiếp của người cao tuổi trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khái niệm nền tảng: người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên theo luật pháp Việt Nam và quy định quốc tế), trung tâm dưỡng lão (phân loại thành trung tâm nhà nước bao cấp/thu phí một phần và trung tâm tư nhân dịch vụ/từ thiện), đặc điểm sinh hoạt và chế độ chăm sóc tại các TTDL.

Chương này xác lập khung lý thuyết về giao tiếp của người cao tuổi sống ở TTDL thông qua 5 thành tố:

  1. Nhu cầu giao tiếp: Sự đòi hỏi tất yếu về việc tiếp xúc, kết nối nhằm thích ứng với môi trường sống tập trung.
  2. Đối tượng giao tiếp: Sự chuyển dịch vùng tiếp xúc từ gia đình, xã hội rộng lớn sang phạm vi nội bộ TTDL (bạn cùng phòng, nhân viên chăm sóc).
  3. Nội dung giao tiếp: Tập trung vào các vấn đề sinh hoạt, tình trạng sức khỏe, thái độ ứng xử và hồi ức cá nhân.
  4. Hình thức giao tiếp: Phân định giữa gặp gỡ trực tiếp mặt đối mặt và giao tiếp gián tiếp qua thiết bị công nghệ, phương tiện truyền thông.
  5. Phương tiện giao tiếp: Sự kết hợp giữa ngôn ngữ (lời nói, chữ viết) và phi ngôn ngữ (điệu bộ, ánh mắt, nét mặt).

Đồng thời, chương 1 xác định hai nhóm yếu tố chi phối giao tiếp: nhóm chủ quan (thể chất, tâm lý, nhận thức vị thế bản thân) và nhóm khách quan (môi trường thiết chế TTDL, sự quan tâm của gia đình, thái độ của nhân viên phục vụ).

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả tiến trình nghiên cứu gồm các giai đoạn chuẩn bị, khảo sát thử nghiệm, thu thập dữ liệu chính thức và xử lý thống kê. Luận án thiết kế hệ thống tiêu chí và thang đánh giá mức độ giao tiếp (thang đo 3-5 mức độ, tính điểm trung bình và độ lệch chuẩn).

Độ tin cậy của các thang đo được kiểm định qua hệ số Cronbach's Alpha trên dữ liệu khảo sát:

  • Hệ số Alpha thang đo Đối tượng giao tiếp: đạt độ tin cậy theo quy chuẩn.
  • Hệ số Alpha thang đo Nhu cầu giao tiếp: phản ánh tính nhất quán nội tại của các biến quan sát.
  • Hệ số Alpha thang đo Nội dung giao tiếp, Hình thức giao tiếp.
  • Hệ số Alpha các thang đo yếu tố ảnh hưởng: Tính cách, Tự cảm nhận vị thế/vai trò bản thân, Sự quan tâm của gia đình và trung tâm.

Địa bàn khảo sát thể hiện tính đa dạng về mô hình quản lý và điều kiện sinh hoạt:

  • TTDL Nhà nước (BTXH 3, BTXH 4): Chế độ ăn theo định mức bao cấp (từ 12.000 đến 20.000 đồng/ngày thời điểm khảo sát), phòng ở 2-3 người/15m2, trang thiết bị giải trí tự trang trải hoặc hạn chế.
  • TTDL Tư nhân (Nhân Ái, Diên Hồng): Chi phí đóng góp hàng tháng (6,5 đến 14 triệu đồng/tháng), điều kiện phòng ở đa dạng (từ phòng tập thể 4-8 người đến phòng đơn tiện nghi đầy đủ), có nhân viên y tế xoa bóp, bấm huyệt, phục hồi chức năng và hệ thống truyền hình cáp.
Cơ sở khảo sát Loại hình Địa bàn Đặc điểm sinh hoạt
TTDL Nhân Ái Tư nhân Bắc Từ Liêm, Hà Nội Dịch vụ thu phí, tiện nghi đầy đủ, chăm sóc y tế tại chỗ
TTDL Diên Hồng Tư nhân Hà Đông, Hà Nội Dịch vụ thu phí theo gói phòng ở, hoạt động thể chất đa dạng
Trung tâm BTXH 3 Nhà nước Nam Từ Liêm, Hà Nội Chế độ ngân sách bao cấp/thu phí thấp, phòng ở tiêu chuẩn
Trung tâm BTXH 4 Nhà nước Ba Vì, Hà Nội Chăm sóc đối tượng bảo trợ, người già neo đơn, ngân sách nhà nước

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về giao tiếp của người cao tuổi sống ở các trung tâm dưỡng lão

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm thu được từ khảo sát định lượng và phân tích định tính:

  1. Đánh giá chung về mức độ giao tiếp: Hoạt động giao tiếp của người cao tuổi sống ở các TTDL đạt mức độ trung bình (thể hiện đồng bộ qua các bảng điểm ĐTB và ĐLC ở 5 thành tố).
  2. Thực trạng các biểu hiện cụ thể:
    • Nhu cầu giao tiếp: Thể hiện rõ nhất ở nhu cầu được tôn trọng, lắng nghe ý kiến và nhu cầu được chia sẻ, tâm sự để giải tỏa tâm lý hụt hẫng khi sống xa gia đình; nhu cầu tham gia hoạt động xã hội rộng lớn bị suy giảm.
    • Đối tượng giao tiếp: Bị thu hẹp đáng kể, đối tượng tiếp xúc thường xuyên nhất là những người bạn cùng phòng và cán bộ phục vụ (điều dưỡng, y tá); việc tiếp xúc với người thân, con cháu phụ thuộc vào tần suất thăm nom của gia đình; ít có cơ hội tiếp xúc với các nhóm xã hội bên ngoài.
    • Nội dung giao tiếp: Tập trung chủ yếu vào chủ đề sức khỏe, bệnh tật cá nhân, kinh nghiệm phòng bệnh và chia sẻ quan điểm về cách ứng xử của các thành viên, cán bộ trong TTDL.
    • Hình thức giao tiếp: Giao tiếp trực tiếp (mặt đối mặt) chiếm ưu thế tuyệt đối trong các sinh hoạt thường nhật; giao tiếp gián tiếp qua điện thoại diễn ra ở mức độ nhất định; việc sử dụng internet rất hạn chế (chủ yếu tập trung ở một số ít người cao tuổi tại trung tâm tư nhân).
    • Phương tiện giao tiếp: Lời nói là phương tiện chủ đạo, kết hợp với các phương tiện phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, cử chỉ).
  3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng:
    • Yếu tố chủ quan: Sự suy giảm thể lực, bệnh lý tuổi già, nét tính cách (hướng nội/hướng ngoại) và sự mặc cảm về vị thế bản thân ảnh hưởng trực tiếp đến tính tích cực giao tiếp.
    • Yếu tố khách quan: Sự quan tâm, thăm hỏi định kỳ của con cháu giúp cải thiện tâm trạng; phong cách giao tiếp ân cần, tôn trọng của cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ tạo môi trường giao tiếp an toàn, tích cực cho người cao tuổi.
  4. Phân tích mô hình dự báo: Kết quả hồi quy tuyến tính (dự báo các yếu tố chủ quan, khách quan và mô hình kết hợp) chứng minh: khi có sự thay đổi tích cực từ các yếu tố hỗ trợ tâm lý xã hội (sự quan tâm của gia đình, sự thấu hiểu của cán bộ TTDL), mức độ tham gia giao tiếp của người cao tuổi có sự biến thiên tương ứng theo hướng tích cực.
  5. Nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu 3 trường hợp:
    • Trường hợp 1 (Ông Đặng Văn L.): Khắc họa trạng thái thích ứng, nhu cầu khẳng định kinh nghiệm sống và giao tiếp với bạn cùng phòng.
    • Trường hợp 2 (Bà Vũ Thị Đ.): Phản ánh nhu cầu giãi bày tâm tư, sự phụ thuộc vào sự quan tâm của con cháu và cán bộ điều dưỡng.
    • Trường hợp 3 (Nguyễn Thị Thu Th.): Biểu hiện rào cản tâm lý, xu hướng khép kín và sự cải thiện giao tiếp khi nhận được sự hỗ trợ từ môi trường xung quanh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ khái niệm giao tiếp của người cao tuổi sống ở các TTDL dưới góc độ tâm lý học chuyên ngành.
  2. Xác lập khung phân tích cấu trúc hoạt động giao tiếp của người cao tuổi tại TTDL qua 5 thành tố: nhu cầu, đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện.
  3. Chỉ rõ cơ chế tác động và tương quan giữa các yếu tố chủ quan (đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, tự cảm nhận vai trò) và khách quan (môi trường thiết chế TTDL, gia đình, cán bộ phục vụ) đối với hoạt động giao tiếp của nhóm khách thể yếu thế này.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng phản ánh bức tranh toàn diện về giao tiếp của người cao tuổi tại 4 TTDL trên địa bàn Hà Nội: mức độ giao tiếp chung đạt mức trung bình; nhu cầu chủ đạo là được tôn trọng và chia sẻ; đối tượng tiếp xúc chủ yếu là bạn cùng phòng và nhân viên chăm sóc; nội dung tập trung vào sức khỏe và sinh hoạt nội bộ; phương tiện chính là lời nói trực tiếp.
  2. Làm rõ sự khác biệt trong điều kiện sinh hoạt và biểu hiện giao tiếp giữa mô hình TTDL công lập (bao cấp, tiện nghi cơ bản) và TTDL tư nhân (dịch vụ, tiện nghi tốt hơn).
  3. Cung cấp mô hình định lượng dự báo sự thay đổi mức độ giao tiếp của người cao tuổi dưới tác động của các yếu tố tâm lý - xã hội.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, xây dựng quy chuẩn về chăm sóc sức khỏe tinh thần và hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi tại các cơ sở bảo trợ và viện dưỡng lão.
  • Đối với các trung tâm dưỡng lão: Cải thiện điều kiện sinh hoạt, bổ sung phương tiện truyền thông (ti vi, sách báo phù hợp); tổ chức các câu lạc bộ sở thích (thơ ca, cờ tướng, dưỡng sinh), tạo không gian sinh hoạt chung để mở rộng mạng lưới giao tiếp; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp tâm lý chuyên ngành cho đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên điều dưỡng.
  • Đối với gia đình và cộng đồng: Duy trì liên lạc thường xuyên, thăm hỏi định kỳ nhằm giảm bớt cảm giác hụt hẫng, cô đơn của người cao tuổi khi vào sống tại trung tâm; xóa bỏ định kiến xã hội đối với mô hình sống tại trung tâm dưỡng lão.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực tế của luận án giới hạn tại 04 trung tâm dưỡng lão trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa mở rộng ra các vùng miền khác có điều kiện kinh tế - xã hội khác biệt. Luận án sử dụng phương pháp khảo sát thực trạng kết hợp nghiên cứu 3 trường hợp điển hình, chưa triển khai thực nghiệm tác động tâm lý hoặc can thiệp lâm sàng để đo lường sự chuyển biến thực nghiệm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên các loại hình trung tâm dưỡng lão ở nhiều địa phương khác nhau; thiết kế các chương trình thực nghiệm can thiệp tâm lý, tập huấn kỹ năng giao tiếp cho nhân viên chăm sóc và tổ chức các liệu pháp hoạt động nhóm nhằm nâng cao chất lượng giao tiếp cho người cao tuổi sống tại TTDL.

Giá trị tham khảo

  • Nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Tâm lý học và Xã hội học: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp luận nghiên cứu tâm lý người cao tuổi, quy trình xây dựng thang đo và kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê SPSS trong nghiên cứu giao tiếp liên nhân cách.
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực tiễn cho các học phần Tâm lý học lứa tuổi, Tâm lý học xã hội, Công tác xã hội với người cao tuổi và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
  • Cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc tại các trung tâm dưỡng lão: Cung cấp hiểu biết tâm lý thực chứng để điều chỉnh phương pháp tiếp xúc, xây dựng quy trình giao tiếp ứng xử phù hợp, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi.
  • Nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách, tiêu chuẩn chăm sóc đời sống tinh thần cho người cao tuổi trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ giao tiếp tổng thể của người cao tuổi sống tại các TTDL được luận án đánh giá như thế nào?
Kết quả khảo sát thực tiễn trên 337 người cao tuổi tại 4 TTDL cho thấy mức độ giao tiếp chung chỉ đạt ở mức trung bình, thể hiện đồng đều qua cả 5 thành tố: nhu cầu, đối tượng, nội dung, hình thức và phương tiện giao tiếp.

2. Người cao tuổi tại TTDL có những nhu cầu giao tiếp nổi bật nào?
Nhu cầu giao tiếp của người cao tuổi tại trung tâm tập trung chủ yếu vào nhu cầu được tôn trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp và nhu cầu được quan tâm, chia sẻ, tâm sự để giải tỏa cảm giác hụt hẫng, cô đơn khi sống xa gia đình.

3. Đối tượng và nội dung giao tiếp chủ yếu của người cao tuổi tại TTDL là gì?
Đối tượng giao tiếp bị thu hẹp đáng kể, chủ yếu là những người bạn cùng phòng và cán bộ phục vụ (điều dưỡng, y tá) của trung tâm. Nội dung các cuộc trò chuyện hàng ngày tập trung vào tình trạng sức khỏe, bệnh tật và các vấn đề ứng xử sinh hoạt nội bộ.

4. Luận án khảo sát tại những trung tâm dưỡng lão cụ thể nào?
Luận án tiến hành khảo sát tại 04 trung tâm trên địa bàn Hà Nội: 02 trung tâm tư nhân (TTDL Nhân Ái, TTDL Diên Hồng) và 02 trung tâm bảo trợ nhà nước (Trung tâm Bảo trợ Xã hội 3, Trung tâm Bảo trợ Xã hội 4).

5. Những yếu tố nào chi phối mạnh mẽ nhất đến hoạt động giao tiếp của người cao tuổi tại TTDL?
Hoạt động giao tiếp chịu ảnh hưởng đồng thời từ yếu tố chủ quan (sức khỏe, tuổi tác, tính cách, tự cảm nhận vị thế bản thân) và yếu tố khách quan (mức độ quan tâm của người thân trong gia đình, thái độ ứng xử của cán bộ quản lý/phục vụ và điều kiện tiện nghi của trung tâm).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thúy Ngọc đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác lập cơ sở lý luận chuyên biệt và khảo sát thực chứng hoạt động giao tiếp của người cao tuổi sống tại các trung tâm dưỡng lão ở Hà Nội. Kết quả nghiên cứu xác nhận mức độ giao tiếp của người cao tuổi tại các cơ sở này chỉ đạt mức trung bình và bị giới hạn cả về đối tượng, nội dung lẫn hình thức tương tác. Công trình cung cấp các mô hình dự báo định lượng và hệ thống kiến nghị thực tiễn có giá trị cao, phục vụ hiệu quả cho công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội, tổ chức chăm sóc đời sống tinh thần và phát triển các mô hình dưỡng lão bền vững tại Việt Nam.