CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TINH THẦN CHO NGƯỜI CAO TUỔI 1. Những vấn đề lý luận về người cao tuổi 1. Một số khái niệm * Khái niệm người cao tuổi Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa, gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Luật Người cao tuổi Việt Nam số 39/2009/QH12 ngày 23/9/2009, điều 2 Quy định: “Người cao tuổi là tất cả công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên’’[12].
Theo tổ chức Y tế Thế giới - WHO thì Người cao tuổi là những người từ 70 tuổi trở lên [23]. Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận Người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội nên sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, Người cao tuổi là đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội. Như vậy có nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi người cao tuổi, trong khuôn khổ luận văn tôi sử dụng khái niệm người cao tuổi theo Luật người cao tuổi của Việt Nam, “người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên”.
* Khái niệm sức khỏe Theo định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO-Word Health Organzation): Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần 14 và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật. Định nghĩa này bao gồm ba mặt: thể chất, tâm thần và xã hội [23]. * Khái niệm Sức khỏe tinhthần Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe tinh thần là một trạng thái khỏe mạnh mà trong đó, mỗi cá nhân nhận biết được khả năng của bản thân, có thể ứng phó với sự căng thẳng thông thường, làm việc hiệu quả và có sự đóng góp cho cộng đồng” [23]. Sức khỏe Tinh thần là hiện thân của sự thỏa mãn về mặt Giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần.
Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh. Sức khoẻ tinh thần là sự biểu hiện của nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức. Cơ sở của sức mạnh tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm. * Khái niệm chăm sóc sức khỏe: Chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, quyền được chăm sóc sức khỏe nằm trong quyền được có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền: “Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ”[24].
Chăm sóc sức khỏe là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích và các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần trong con người 15 Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chăm sóc sức khỏe.: Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn: “Quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu”, NXB y học Hà Nội năm 1995 thì: Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí.), để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội [2]. * Khái niệm chăm sóc sức khỏe tinh thần: Chăm sóc sức khỏe tinh thần là đảm bảo trạng thái khỏe mạnh về thông tin cơ bản [11]. - Khả năng tận hưởng cuộc sống: khả năng sống với hiện tại, trân trọng những gì mình có, chấp nhận những gì mình có. - Khả năng phục hồi: Khả năng bình phục sau những trải nghiệm khó khăn và những sự kiện đau buồn trong cuộc sống như trải qua mất mát, đổ vỡ, thất nghiệp; khả năng chống chọi với những đau khổ tâm lý trong những sự kiện đó mà không mất đi sự lạc quan cũng như niềm tin của mình.
- Khả năng cân bằng: Khả năng thiết lập một số cân bằng trước rất nhiều mặt trong cuộc sống như: thể chất, tinh thần và xã hội. - Khả năng phát triển cá nhân: Khả năng tự nhận biết năng lực và sở thích của cá nhân, nuôi dưỡng những khả năng của mình để đạt được sự phát triển tối đa. - Khả năng linh hoạt: Khả năng thích nghi trong những tình huống mới; khả năng tự điều chỉnh mong đợi của mình.2 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi [3]. * Đặc điểm tâm lý của NCT: Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa -tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình.
Khi 16 bước sang giai đoạn tuổi già,những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: a. Hướng về quá khứ Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh.Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật… b. Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạngthái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi.
Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”. Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi có thể được liệt kê như sau: - Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thường bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi.
Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình. - Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng.
Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản 17 nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình. Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau. nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường.
- Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng. có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.
- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu. có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết. Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận người cao tuổi thường thay đổi tính nết.
Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử phù hợp. Nhu cầu, mong muốn về chăm sóc sức khỏe tinh thần của người cao tuổi Cùng với quá trình lão hóa, quá trình thay đổi về sinh lý, tâm lý con người trong giai đoạn cao tuổi có nhiều thay đổi. Do đó nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tinh thần cho NCT là rất cần thiết: 18 - Nhu cầu được quan tâm, chăm sóc: Có không ít NCT luốn sống trong cảnh buồn, vui xen lẫn sợ hãi vì sợ con, cháu không còn quan tâm mình và sợ bị bỏ rơi. Do vậy sự quan tâm, chăm sóc của gia đình sẽ giúp NCT an tâm hơn, sống vui, sống khỏe trong những ngày tháng về già.
- Nhu cầu được lắng nghe và trò chuyện : Khi NCT được lắng nghe, chia sẻ, họ sẽ kể được hết những tâm tư của mình, từ đó họ có thể thoát khói sự cô đơn, khép mình. - Nhu cầu được tâm lý: Với sự thay đổi về tâm sinh lý cũng như xã hội, người cao tuổi dễ gặp các vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Các vấn đề này làm cho việc thực hiện các chức năng xã hội của họ bị cản trở. Việc tâm lý sẽ giúp NCT vượt qua những thay đổi trạng thái cảm xúc, hành vi tiêu cực, cải thiện cuộc sống của chính mình.
- Nhu cầu được tham gia các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, các hoạt động xã hội để có thể cởi mở bản thân hơn, thấy mình có ích hơn.