MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ở Việt Nam hiện nay, số lượng người khuyết tật đang gia tăng nhanh chóng. Người khuyết tật có lẽ là người luôn gặp khó khăn ở một hoặc một vài khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội. Nhà nước ta đã và đang có những chính sách, những nỗ lực để giúp người khuyết tật được bình đẳng hơn về cơ hội trong việc tiếp cận các dịch vụ như: y tế, giáo dục, việc làm; cũng như hỗ trợ người khuyết tật nhận được các dịch vụ liên quan đến khuyết tật của họ.
Chúng ta đều biết rằng người khuyết tật là một trong những nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương và họ luôn cần được hỗ trợ để có thể giảm bớt hoặc khắc phục, tiến tới loại bỏ vấn đề khuyết tật của mình. Tiếp cận công tác xã hội trong hỗ trợ cho người khuyết tật hiện nay đang được xem là một hoạt động phù hợp, hướng đến việc xây dựng một xã hội hòa nhập và chấp nhận sự khác biệt. Luật Người khuyết tật năm 2010 của Quốc hội cũng đã nêu rõ các quyền của người khuyết tật (Khoản 1 – Điều 4). Đồng thời, chúng ta đều nhận thấy người khuyết tật cũng như những cá nhân khác trong xã hội, họ cũng có những nhu cầu trong các lĩnh vực của đời sống cần được đáp ứng: việc làm, y tế, giáo dục, cơ hội tiếp cận… Để hoạt động trợ giúp cho người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật trí tuệ nói riêng đạt hiệu quả, cần huy động sự nỗ lực từ nhiều phía, trong đó yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng.
Bởi gia đình là nơi có nhiều thời gian và điều kiện tiếp xúc, hỗ trợ và giáo dục trẻ. Nếu gia đình có nhận thức đúng đắn về vấn đề trẻ đang gặp phải, có những kiến thức hiểu biết nhất định thì điều này sẽ là một yếu tố thuận lợi giúp trẻ được can thiệp kịp thời, đúng mức độ bệnh, đúng tình trạng bệnh và phù hợp với khả năng của trẻ. 1 Tuy nhiên, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của đại đa số các bậc phụ huynh có con bị khuyết tật trí tuệ thì một bộ phận không nhỏ cha, mẹ của trẻ vẫn còn những hạn chế nhất định trong nhận thức, điều này gây cản trở trong quá trình trợ giúp cho trẻ, bởi khi nhận thức của cha, mẹ hạn chế hoặc nhận thức chưa đúng, chưa đủ sẽ rất khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục và tiếp cận các nguồn lực. Vì vậy, gia đình cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội khác, cùng chung tay góp sức trong việc hỗ trợ cho trẻ, nhằm mang lại sự chuyển biến tích cực cho trẻ em khuyết tật trí tuệ, giảm bớt những thiệt thòi và tăng thêm cơ hội cho các em.
Muốn thực hiện tốt các hoạt động trên cần có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ những người làm công tác xã hội – những người với vai trò trợ giúp cho nhóm đối tượng yếu thế, bị tổn thương. Tuy nhiên, công tác xã hội vẫn còn là một nghề mới mẻ ở Việt Nam, điều đó đặt ra những thách thức đối với những nhân viên làm việc trong lĩnh vực này. Những nhân viên công tác xã hội được đào tạo với đầy đủ kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, họ sẽ làm gì để phát huy hết vai trò của mình trong việc trợ giúp cho nhóm trẻ em thiệt thòi? Là một nhân viên xã hội làm việc trong lĩnh vực trẻ em khuyết tật, tôi có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với các em cũng như gia đình của các em, hiểu được những khó khăn mà các gia đình trẻ khuyết tật đang gặp phải. Tôi hiểu hơn hết một điều rằng, để trợ giúp cho trẻ em khuyết tật rất cần huy động nguồn lực từ chính gia đình các em, những thành viên hàng ngày tiếp xúc, chăm sóc và nuôi dạy các em.
Vì vậy, cần cung cấp cho gia đình trẻ khuyết tật những kiến thức, kỹ năng trong việc chăm sóc, giáo dục cũng như kết nối các nguồn lực nhằm mang tới sự trợ giúp tốt nhất cho nhóm trẻ em có nhu cầu đặc biệt này. 2 Với tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi đã lựa chọn hướng nghiên cứu:“ Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc nâng cao năng lực cho cha, mẹ về chăm sóc và giáo dục trẻ em khuyết tật trí tuệ ( Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Hy Vọng – Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố Hà Nội)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành công tác xã hội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Trên thế giới Ngược dòng lịch sử, dường như “trẻ khuyết tật” là một khái niệm được nhiều người, nhiều nước quan tâm và ngày càng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Từ thế kỷ 15 trở về trước, không có nhiều tư liệu về giáo dục trẻ khuyết tật. Nhà triết học Aristos cho rằng: “Không có gì có thể tồn tại trong trí óc con người nếu không được các giác quan tiếp nhận”. Do đó, trẻ khuyết tật với những khiếm khuyết của mình không thể tiếp thu các kiến thức, kinh nghiệm của lịch sử, xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những người cho rằng việc giáo dục cho trẻ điếc ( trẻ khiếm thính) là có thể thực hiện được.
Thế kỷ 19 – 20, giáo dục cho trẻ khuyết tật được mở rộng hơn. Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhà giáo dục Pháp - Gaiu. Sau đó là các nhà giáo dục khác: Lui Braille, Klein, Arnitet…Thành công nhất là Lui Braille, ông đã đặt nền móng về nội dung, phương pháp dạy học, hình thức giáo dục và kiểu chữ viết cho người khiếm thị đến nay vẫn được toàn thế giới thừa nhận. Trước những năm 70 của thế kỷ 20 là thời kỳ phát triển của mô hình giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật.
Các ngành khoa học ngày càng phát triển nên quan niệm của xã hội về người khuyết tật nói chung đã có sự thay đổi. Người ta cho rằng, người khuyết tật nói chung cũng như trẻ em khuyết tật có khă năng phục hồi các chức năng bị khiếm khuyết nếu được chữa trị, họ cũng 3 có nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại, có những khả năng nhất định để tham gia vào đời sống xã hội. Những năm cuối thế kỷ 20 đến nay, vấn đề người khuyết tật và trẻ em khuyết tật ngày càng được tât cả các quốc gia và cộng đồng người trên thế giới quan tâm. Tuyên ngôn về quyền của người chậm phát triển tinh thần đã được Liên hợp quốc thông qua ngày 21/12/1971; Tuyên ngôn về người tàn tật ngày 9/12/1975.
Hội nghị thế giới về trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt được tổ chức tại Salamanca, Tây Ban Nha năm 1994 đã khẳng định lại quyền được giáo dục của mọi cá nhân như đã nêu trong tuyên bố chung về Quyền con người năm 1948. Tư tưởng tiến bộ của nhân loại đối với trẻ khuyết tật đã được khẳng định trong các điều, đặc biệt là điều 23 trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Trong phạm vi giáo dục, điều này được thể hiện thông qua việc xây dựng các chiến lược nhằm tìm kiếm và mang lại sự bình đẳng về cơ hội. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, việc hòa nhập trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt được thực hiện thành công nhất trong các trường hòa nhập dành cho mọi trẻ em trong cộng đồng.
Các trường hòa nhập đã tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho trẻ khuyết tật có đủ cơ hội đạt tới sự bình đẳng và tham gia đầy đủ. Hiệu quả giáo dục hòa nhập phụ thuộc vào sự cố gắng của giáo viên, cha mẹ trẻ, cộng đồng và chính bản thân trẻ khuyết tật. Như vậy, giai đoạn này cùng tồn tại 2 mô hình giáo dục chủ yếu cho trẻ khuyết tật là mô hình giáo dục chuyên biệt và mô hình giáo dục hòa nhập. Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, mô hình giáo dục hòa nhập ngày càng tỏ rõ tính ưu việt và dần thay thế mô hình giáo dục chuyên biệt.
Các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNICEP… đã có những văn bản hướng dẫn các quốc gia cách thức tổ chức, thực hiện mô hình giáo dục hòa nhập. Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã có những văn bản luật và dưới luật nhằm thực hiện một cách hiệu quả, đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật. 4 Những năm gần đây, vấn đề người khuyết tật nói chung và vấn đề trẻ em khuyết tật nói riêng đang ngày càng được các tổ chức, các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Theo báo cáo Tình hình trẻ em Thế giới hàng năm của tổ chức UNICEP tổ chức tại Đà Nẵng, Việt Nam ngày 30 tháng 5 năm 2013 nhấn mạnh: Trẻ khuyết tật và cộng đồng sẽ được lợi nhiều hơn nếu xã hội quan tâm tới những gì trẻ khuyết tật có thể đạt được thay vì tập trung chú ý vào những khiếm khuyết của các em.
Quan tâm tới những khả năng và tiềm năng của trẻ khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội. “ Nhìn vào khuyết tật của trẻ trước khi nhìn nhận trẻ không chỉ là hành động không công bằng với trẻ mà còn làm mất đi những điều trẻ có thể mang lại cho xã hội”, Ông Anthony Lake – Giám đốc điều hành UNICEP phát biểu. “Sự mất mát của các em là mất mát chung của toàn xã hội; lợi ích của các em cũng là lợi ích cho toàn xã hội”. Báo cáo chỉ ra những cách thức để hòa nhập trẻ khuyết tật vào xã hội.
Các nỗ lực hỗ trợ trẻ khuyết tật hòa nhập với xã hội sẽ giúp đẩy lùi sự phân biệt đối xử đang gạt các em ra bên lề của xã hội. Báo cáo tình hình trẻ em Thế giới năm 2013 với chủ đề trẻ em khuyết tật cho biết: trẻ em khuyết tật là nhóm ít có khả năng được chăm sóc y tế hoặc được đi học nhất. Trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu thế nhất trên thế giới. Chúng ta đang có những tiến bộ tiến tới hòa nhập trẻ em khuyết tật, mặc dù các tiến bộ chưa được đồng đều, báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới 2013 đưa ra chương trình cho những hành động tiếp theo.
Báo cáo kêu gọi các Chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về Quyền của Người khuyết tật và Công ước Quyền Trẻ em, và có những hỗ trợ cho các gia đình để họ có thể đáp ứng được các chi phí thường cao hơn mức bình thường trong chăm sóc trẻ em khuyết tật.