CHƯƠNG 1: TONG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CUU VE VAI TRO CUA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRUYÈN THÔNG CHO PHỤ NỮ CÓ CON DƯỚI 36 THÁNG TUỔI 1. Tổng quan nghiên cứu về truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi Trong nhiều năm gần đây sự pháp triển của truyền thông là điều không thé phủ nhận; khi truyền thông đã có những đóng góp to lớn trong sự phát triển kinh tế - văn hóa — xã hội; do đó, đã có rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu về truyền thông như báo chí, xã hội học, giáo dục, kinh tẾ. cả trong vả ngoài nước. Đặc biệt trong y học đã áp dụng phương pháp truyền thông dé nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân và đạt đến những kết quả nhất định trong y học như giảm tỷ lệ sinh, giảm tỷ lệ chết mẹ do thai sản, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng,.
Nhưng dường như những tỷ lệ về đinh dưỡng ở nước ta vẫn còn cao, tỷ lệ trẻ em được phát triển toàn diện còn hạn chế. Do đó đã có những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về truyền thông cho phụ nữ có con trong vòng 36 tháng. Một số nghiên cứu về giai đoạn dưới 36 tháng của trẻ Các nghiên cứu về giai đoạn 36 tháng của trẻ thường được thực hiện bởi các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, giáo dục, tâm lý. Tác giả Nguyễn Trọng An ( 2015) trong nghiên cứu của mình về chăm sóc và phát triển toàn điện cho trẻ từ 0 — 36 tháng tuôi đã chỉ ra cụ thể những mốc phát triển của trẻ từ lúc là thai nhi cho đến khi tròn 36 tháng.
Tài liệu cũng chỉ rất rõ những công việc người lớn, bà mẹ cần phải làm để có một thai nhi khỏe mạnh từ chế độ dinh dưỡng thời ky mang thai, các mũi tiêm vacxin; chu kỳ khám thai, những dấu hiệu phát triển của thai nhi hay ngay cả những dau hiệu bất thường khi bà mẹ mang thai. Tác giả nghiên cứu các giai đoạn 15 trẻ từ lúc trào đời cho đến lúc tròn 36 tháng tuổi. Tài liệu đã chỉ rất rõ khi đó người chăm sóc trẻ cần phải làm như cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chế độ dinh dưỡng ứng với từng thời kỳ phát triển của trẻ; nghiên cứu cũng đề cập đến sự phát triển tinh thần, ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này và chỉ ra cha mẹ cần phải làm. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với nhân viên CTXH khi được sử dụng truyền thông cho phụ nữ có con trong giai đoạn dưới 36 tháng [1].
Tác giả Nguyễn Trọng An phối hợp cùng Trung tâm nghiên cứu đào tạo phát triển cộng đồng (2014) đã nghiên cứu chỉ tiết chăm sóc người mẹ giai đoạn mang thai; chăm sóc mẹ và bé sơ sinh; nuôi con khỏe mạnh; chăm sóc con khỏe và sớm phát triển; giúp con phát triển các kỹ năng cần thiết; kỹ năng làm giảng viên; vận hành theo dõi giám sát câu lạc bộ nam trong bộ sé tay từ lđến 7 quyền hướng dẫn chăm sóc trẻ về đối tượng từ thai nhi cho đến 24 tháng tuổi; Những nghiên cứu này của tác giả góp phần cung cấp kiến thức và kỹ năng chăm sóc toàn diện cho trẻ, giúp hiểu sâu về sự phát triển của trẻ và người chăm sóc trẻ biết cần phải làm đề đảm bảo sự phát triển của trẻ. Đặc biệt trong nghiên cứu của tác giả có phần kỹ năng làm giảng viên, nhân viên CTXH có thé dùng như là một tài liệu giúp bổ sung kiến thức và phát huy vai trò truyền thông cho phụ nữ có con đưới 36 tháng tuôi. Irene Chattoor (Chủ biên do Thiên Lương dịch) trong cuốn sách Bé yêu học ăn của đã giúp cho những người đang chăm sóc trẻ giải quyết được các thắc mắc câu hỏi của ban thân làm thé nào dé trẻ ăn ngoan và khoa học trong những năm đầu đời. Tài liệu giúp cho quá trình truyền thông về sinh hoạt hàng ngày của nhân viên CTXH vừa thực tẾ, hấp dẫn, hiệu quả đối với phụ nữ có con dưới 36 tháng tuôi.[24] Tác giả Nguyễn Thị Hiếu (chủ biên) trong cuốn tài liệu Hướng dẫn chăm sóc giáo dục trẻ dưới 36 tháng tuổi ở nhóm trẻ độc lập tư thục của, sẽ giúp 16 cho vai trò truyền thông về phần giáo dục và chính sách của trẻ hiểu rõ hơn các chăm sóc, giáo dục cho trẻ từng độ tuổi phù hợp khi tham gia lớp học dé đảm bảo trẻ phát triển đầy đủ thé chất — tinh than và giao tiếp; Cuốn tài liệu sẽ cung cấp những bài tập thực hành để phụ nữ có con trong giai đoạn 1000 ngày đầu đời có thể áp dụng trong việc chăm sóc phát triển toàn điện của trẻ.
[10] Những nghiên cứu của các tác giả trên, giúp cho tôi có kiến thức cơ bản về các lĩnh vực phát triển của trẻ trong giai đoạn 36 tháng tuôi, những việc người mẹ trải qua trong giai đoạn này để góp phần xây dựng nội dung nghiên cứu của mình về lĩnh vực vai trò của nhân viên CTXH trong truyền thông cho phụ nữ có con đưới 36 tháng tuôi. Nghiên cứu về hỗ trợ phụ nữ có con dưới 36 tháng tudi Trong tư cách là nhân viên CTXH làm công việc truyền thông nhằm tăng cường hiểu biết cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tuôi, chúng tôi chỉ tìm được một tài liệu đó là cuốn tài liệu dành cho tình nguyện viên sinh hoạt nhóm trẻ từ 0-3 tuổi do Hội LHPN Việt Nam biên soạn sẽ giúp ich cho những người tham gia tô chức sinh hoạt nhóm cha mẹ biết tổ chức nhóm trẻ vui chơi dưới 3 tuổi, hướng dẫn giáo dục trẻ dưới 3 tuổi, xây dựng ý thức chia sẻ việc chăm sóc giáo dục, nuôi day con trong gia đình; ngoài ra cuốn tài liệu giúp tăng cường kỹ năng của người truyền thông giúp thu hút chị em tham gia đạt hiệu quả. Cuốn tài liệu này rất phù hợp với chương trình tập huấn dao tạo tình nguyện viên truyền thông về 36 tháng đầu đời của trẻ, và phù hợp với công việc của một nhân viên CTXH trong hỗ trợ cho các bà mẹ có con trong vòng 36 tháng tuổi. Một số nghiên cứu về truyền thông Tác giả David Croteau, William Hoyneys ( 2003) trong cuốn Truyền thông/ xã hội: Công nghệ, hình ảnh và công chúng đã đánh giá vai trò xã hội 17 của các phương tiện truyền thông, quá trình phát triển của công nghệ truyền thông, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị và công chúng đối với các phương tiện truyền thông đại chúng, tác động của toàn cầu hóa đến phương tiện truyền thông, từ nội dung cuốn sách nhân viên CTXH sẽ lập kế hoạch truyền thông, lựa chọn những phương pháp và công cụ truyền thông sao cho phù hợp với chị em phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi ở từng vùng miền khác nhau của Việt Nam.
Tác giả Elena Yonah Rosen, Arli Paulin Quesada, Sue Lockwood Summer (1998) nghiên cứu trong cuốn thay đổi thế giới thông qua giáo dục truyền thông đã phân tích chỉ tiết về vai trò của truyền thông trong việc đánh giá các vấn đề hiện tại như sức khỏe, con người, bạo lực, chủ nghĩa phân biệt. Nghiên cứu đó nhân viên CTXH có thể áp dụng để thê hiện vai trò vận động nguồn lực giúp thực hiện thành công kế hoạch truyền thông. Tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và tác giả Đỗ Thị Thu Hăng biên soạn; NXB Chính trị Quốc gia — Sư that( 2012) trong cuốn sách Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông đại chúng. nói riêng; cũng như cung cấp một số nội dung, khái niệm, kỹ năng, tình huống, cơ chế, chức năng.
của một số loại hoạt động truyền thông: chu trình, việc lập kế hoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sử dụng trong giám sát, đánh giá và các hoạt động dé duy trì hoạt động truyền thông. Qua cuốn sách, người đọc sẽ thấy hoạt động truyền thông bao gồm nhiều cấp độ, từ truyền thông nội cá nhân đến việc giao tiếp liên cá nhân. Nhưng dù ở cấp độ nào thì truyền thông cũng góp phần quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách cá nhân cũng như hình thành điện mao văn hóa của mỗi con người và của cộng đồng, của quốc gia vì những tác động, và sức lan tỏa, sức truyền dân của nó tới công chúng. 18 Trong cuốn kỷ yếu các dé tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe 2014 của Bộ Y tế có nghiên cứu về tỉnh hình nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu của các bà mẹ có con từ 6 — 24 tháng tudi và một số liên quan tại huyện Tân Phú tinh An Giang năm 2012 đã chỉ ra các yếu tô từ nhận thức đến hành vi của các mẹ; và trong phần khuyến nghị tác giả đã khăng định lại sự cần thiết của việc tăng cường vai trò, và đa dạng hóa hình thức truyền thông, cũng như tập huấn nâng cao kỹ năng truyền thông cho cán bộ tham gia truyền thông.
Cuốn sách truyền thông dân số sức khỏe sinh sản và phát triển của tô chức UNFPA, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2007) sẽ giúp cho nhà truyền thông nắm được các kiến thức cơ bản, toàn diện và các phương pháp, điều kiện, kỹ năng cần thiết về truyền thông và truyền thông liên quan đến sức khỏe/dân số và đạt hiệu quả cao trong hoạt động của mình. Những nghiên cứu về truyền thông và truyền thông giáo dục sức khỏe, kiến thức về chăm sóc phát triển toàn điện của trẻ trong giai đoạn 36 tháng đầu đời đã được sự đón nhận và học tập của các nhà nghiên cứu khác cũng như công chúng. Qua các tài liệu, nghiên cứu đó cho người đọc những kiến thức cơ bản nền tảng để làm thế nào đó xây dựng được hoạt động truyền thông phù hợp với mục đích, nhu cầu của phụ nữ có con đưới 36 tháng tuổi và đem lại hiệu quả, tính khả thi cao. Cơ sở nghiên cứu lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông cho phụ nữ có con dưới 36 tháng tudi 1.
Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm vai trò Theo từ điển xã hội học oxford thuật ngữ vai trò là ding để xác định thành phần các mô hình văn hóa gắn liền với một địa vị cụ thể. Nó gồm tâm thê, giá trị hành vi do xã hội găn cho bât cứ ai hoặc tât cả những người chiêm 19 địa vị cụ thể.