chương 1 tập trung vào việc tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến di cư hôn nhân xuyên quốc gia, hệ thống lại những phát hiện về nghiên cứu hôn nhân Đài-Việt và Hàn-Việt được xem như một hiện tượng xã hội nhằm giúp NCS xác định được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và hướng đến một phương pháp nghiên cứu xã hội học phù hợp nhất. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nội dung chương 2 tập trung trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, làm rõ những khái niệm chủ chốt của đề tài, lựa chọn lý thuyết xã hội học phù hợp được vận dụng trong nghiên cứu, phân tích sơ lược yếu tố chính sách y tế và giáo 13 dục đối với trẻ em. Ở chương 2 cũng đề cập đến địa bàn và mẫu nghiên cứu được mô tả cách cụ thể. Chương 3: Tiếp cận dịch vụ y tế của trẻ lai qua kết quả khảo sát tại Hậu Giang Nội dung chương 3 mô tả sơ lược thân trạng trẻ lai tại Hậu Giang, phần chính của nội dung này làm nổi bậc thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm trẻ lai đồng thời phân tích những tác động liên quan đến tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm trẻ này.
Việc so sánh bằng cách phân tích giữa nhóm trẻ lai và nhóm trẻ cộng đồng tại địa phương cho thấy sự khác biệt giữa hai nhóm trẻ trong tiếp cận dịch vụ y tế. Nội dung này quan trọng bởi nó là cơ sở thực tiễn để xem xét những quy định chính sách về y tế cho trẻ lai tại địa bàn khảo sát. Chương 4: Tiếp cận dịch vụ giáo dục của nhóm trẻ lai qua kết quả khảo sát tại Hậu Giang Tập trung đánh giá thực trạng và nhận diện những yếu tố tác động đến tiếp cận giáo dục cho nhóm trẻ lai tại cộng đồng. Chương này cũng tập trung phân tích sự khác biệt giữa nhóm trẻ lai và trẻ cộng đồng trong tiếp cận dịch vụ y tế nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc xem xét các quy định chính sách giáo dục cho trẻ lai tại Hậu Giang.
14 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt đang được nuôi dưỡng tại Việt Nam hiện nay được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông và báo chí khá thường xuyên vì rất nhiều những trường hợp đươc mẹ đưa về hoặc trẻ được sinh tại Việt Nam nhưng không thể làm khai sinh, quốc tịch để đi học và tiếp cận các dịch vụ y tế công tại địa phương. Nhóm trẻ lai này xuất hiện tại các tỉnh thuộc TNB trong những năm sau khi phong trào phụ nữ lấy chồng Đài loan và Hàn Quốc. Thực trạng đời sống trẻ lai tại TNB trở thành một nhóm thiểu số, và có gặp nhiều trở ngại trong quá trình hội nhập với xã hội tuy nhiên để xem xét được những vấn đề liên quan đến trẻ lai thì trước tiên cần tìm hiểu về làn sống kết hôn xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam, cụ thể là phụ nữ thuộc các tỉnh TNB. Từ những cuộc hôn nhân chóng vánh và dần đi đến kết quả ly hôn, hay hôn nhân gặp rủi ro… và những đứa trẻ trở thành nhóm trẻ được đưa về đất nước Việt Nam như một kiểu “nhập cư” của một nhóm trẻ đặc biệt 1.
Những nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về hôn nhân xuyên quốc gia- liên quan đến vấn đề trẻ lai Đài-Việt và Hàn –Việt Theo Yang và Mellody Chia – Wen Lu (2007), tác giả đã hệ thống lại tình trạng kết hôn xuyên quốc gia của bốn đất nước chính là Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, và Hồng Kong có tỉ lệ kết hôn có yếu tố nước ngoài không ngừng gia tăng [124], việc kết hôn xuyên quốc gia mà nhiều tác giả trong tác phẩm này xem đó là một hiện tượng xã hội hay là một vấn đề xã hội, đồng thời trong nội dung cũng có đề cập đến hiện tượng li hôn trong loại hình hôn nhân này ở các quốc gia nói trên và tình trạng li hôn đó đáng ghi nhận bởi nó cũng phát triển theo tỉ lệ kết hôn có yếu tố nước ngoài [108], vấn đề này là một xu hướng phát triển tự nhiên của TCH, mà trong đó một số tác giả gọi là “hiện tượng nữ hóa di cư” [92]. Cũng theo Yang và Mellody Chia – Wen Lu (2007), dù tác phẩm được xuất bản vào năm 2007, với nội dung chính được nêu cho thấy hầu hết xem việc kết hôn là một hiện tượng xã hội và người ta chỉ nghiên cứu về hiện tượng kết hôn, nói một chút về vấn đề li hôn, không thấy tác giả nói đến hậu quả của việc li hôn và đặc biệt những vấn đề có liên quan đến trẻ lai của các quốc gia, điều đó cho thấy việc nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu về trẻ lai đang sống tại Việt Nam là hết sức kịp thời và cần thiết trong bối cảnh phát triển hiện nay. 15 Đài Loan và Hàn Quốc là hai quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam, qua việc so sánh con số thu nhập bình quân trên đầu người của các nước trong khu vực cho thấy Đài Loan và Hàn Quốc cách xa Việt Nam và họ chỉ đứng sau Singapore (xem biểu đồ 1. Điều này cũng lí giải cho làn sóng di dân từ các nước có thu nhập đầu người thấp hơn di chuyển đến các quốc gia có thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn là có thể lí giải bởi yếu tố việc làm, yếu tố kinh tế được xem như là chọn lựa chiến lược cho cuộc sống của người di cư bằng con đường hôn nhân, việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc và Đài Loan cũng cho thấy dưới bối cảnh TCH việc dịch chuyển, di cư có định hướng rõ rệt, có mục tiêu kinh tế rõ ràng đó là tình trạng di cư rất mạnh mẽ của những phụ nữ trẻ, đẹp và có những đặc điểm yếu thế như trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp ổn định, xuất thân từ các vùng nông thôn đặc biệt ở các tỉnh thuộc TNB với mục đích muốn thay đổi đời một cách nhanh chóng bằng nhiều lý do khác nhau nhưng tập trung vào lý do kinh tế, tìm kiếm công ăn việc làm, muốn giúp gia đình dài lâu, muốn thoát khỏi những hoàn cảnh trước mắt là lập gia đình với đàn ông Việt Nam rồi trở nên thất bại trong hôn nhân như những người mẹ, người chị của họ [2], [32], [37], [58], [85] Biểu đồ 1.1: Thu nhập bình quân trên đầu người giữa các quốc gia Châu Á năm 2008 Nguồn: Duong, 2009 Những nghiên cứu về hôn nhân xuyên quốc gia giữa Đài Loan-Việt Nam, Hàn Quốc – Việt Nam đều xác định rằng kiểu hôn nhân này là một hiện tượng phổ 16 biến [6], [34], [69], [70], [58], [83] từ thực trạng di dân thông qua con đường hôn nhân xuyên quốc gia đã dần hình thành nên một hiện tượng xã hội hiện đại, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra những kết luận tác động từ những cuộc hôn nhân đó là những vấn đề thích ứng xã hội với các cô dâu [34], [38] dẫn đến vấn đề chuyển đổi cơ cấu gia đình ở các quốc gia đi và đến [99], [106].
Vấn đề xung đột trong hôn nhân vội vàng chóng vánh hoặc câu chuyện bi kịch dẫn đến li thân, li hôn [35], [36], [62], [29], [128], [131] thì câu chuyện đặt ra đối với những nhà nghiên cứu là sự tác động đến cá nhân, gia đình và cộng đồng của dạng hôn nhân này hiện nay đang như thế nào, có những bất cập gì hay có những rủi ro gì tác động đến các nhân trẻ lai [35], [37], [96] cần được nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn mang tính khoa học Theo những tác giả nghiên cứu trong nước về hôn nhân xuyên quốc gia, có nhiều quan điểm phê phán và ủng hộ kiểu hôn nhân xuyên quốc này, biểu hiện của những quan điểm phê phán đa số tập trung ở giai đoạn đầu của làn sóng kết hôn những năm trước 2000 [18], [137]. Những kết quả nghiên cứu đánh giá với qui mô mẫu lớn như của Phan An và cộng sự (2001), hay của Trần Thị Kim Xuyến (2005) thì cho rằng hôn nhân xuyên quốc gia có những đóng góp về kinh tế cho hộ gia đình, giải quyết việc làm và tác động tích cực đến đời sống xã hội góp phần xóa nghèo ở địa phương, và không riêng gì hai tác giả trên còn có nhiều tác giả xem kiểu hôn nhân xuyên quốc gia này là một thực tại khách quan hiện nay [34], [58], [62], [101] [102], [106] 1. Nguyên nhân và thực trạng kết hôn xuyên quốc gia Dưới bối cảnh TCH việc hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội ngày càng được mở rộng, làn sóng kết hôn xuyên quốc gia đã bắt đầu và tăng nhanh, tính đến năm 2016 số liệu từ VPKTVH Đài Bắc Tại TPHCM cung cấp với 133,023 trường hợp phụ nữ Việt Nam phỏng vấn kết hôn thành công với người Đài Loan [61],[74], [84], và hơn 40,000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc [24],[43]. Điều này cho thấy một xu hướng tất yếu đã xảy ra từ sau Đổi Mới, nhà nước Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Đài Loan và Hàn Quốc là những quốc gia đầu tiên đã đến đầu tư về kinh tế tại Việt Nam.
Hầu hết những nghiên cứu về TCH được xem xét dưới góc kinh tế nhiều hơn, một số quan điểm chính trị lo lắng mức độ phụ thuộc các nước lớn về kinh tế và chính trị 17 Những diễn đàn khoa học cũng chỉ mô tả bức tranh chung về hôn nhân xuyên quốc gia như một hiện tượng xã hội, hội thảo gần đây ở Nhật Bản, Social Changes through Cross-border Marriage Migration in East and Southeast Asia của Đại học Kyoto với 9 bài tham luận của 9 tác giả ở nhiều nước như Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Việt Nam, nội dung tập trung vào việc kết hôn, đời sống hôn nhân, những tác động của hôn nhân, chính sách hôn nhân xuyên quốc gia, và một vài luận điểm về con cái. Tuy nhiên vẫn không thấy đề cập đến vấn đề pháp lí của trẻ lai, những tác động về mặt xã hội sau li hôn xuyên quốc gia đến đời sống con lai, những cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản như được giáo dục, học tập, và chăm sóc y tế, quyền của trẻ lai chưa thấy đề cập trong diễn đàn cách thấu đáo.