Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội trong trợ giúp trẻ em mồ côi hòa nhập cộng đồng. Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong trợ giúp trẻ em mồ côi hòa nhập cộng đồng tại làng SOS Thái Bình Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội trong việc hỗ trợ hòa nhập cộng đồng đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNGTÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 1.1 Một số khái niệm nghiên cứu 1.1 Khái niệm trẻ em Xét về góc độ phát triển, trẻ em là “những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” dẫn theo Nguyễn Hiệp Thương. Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.
Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”[10]. Theo Luật Trẻ em 2016 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII quy định “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi” [24] Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em là những người dưới 16 tuổi”.2 Khái niệm trẻ em mồ côi 1.1 Khái niệm trẻ em mồ côi Là một trong các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi theo quy định tại Nghị định 07/2000/NĐ-CP được hiểu như sau: “Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích hoặc không đủ năng lực, 11 khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Dân” [5, trang1]. Khái niệm Cộng đồng “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” (Làng trẻ Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ) 1. Hoà nhập cộng đồng Hòa nhập cộng đồng theo nghĩa rộng là một xã hội không có rào cản cho mọi người trong việc tham gia vào đời sống xã hội.
Trong tiến trình xã hội hóa của cá nhân sẽ không gặp bất cứ khó khăn nào làm trở ngại đến tâm lý, sức khỏe và về mặt xã hội. Theo nghĩa hẹp đó là sự hòa nhập của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong việc tham gia vào đời sống xã hội. Những rào cản này bao gồm thái độ kỳ thị xa lánh và phân biệt đối xử thậm chí là bất bình đẳng của cộng đồng đối với từng cá nhân. Khái niệm CTXH và CTXH với trẻ em * Khái niệm công tác xã hội Tác giả Bùi Thị Xuân Mai đưa ra một khái niệm chung về CTXH ở Việt Nam: Là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (ASXH).
* Khái niệm công tác xã hội với trẻ em CTXH với trẻ em là các hoạt động chuyên môn của CTXH nhằm thúc đẩy mối quan hệ của trẻ em với các lực lượng xã hội và gia đình để giải quyết các 12 vấn đề của trẻ. Thiết lập các chương trình, dịch vụ công tác xã hội để đảm bảo các chính sách xã hội cho trẻ, giúp trẻ được an toàn và phát triển tốt đẹp 1.7 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu * Thuyết nhu cầu của AbrahamMaslow Nội dung của lý thuyết Thuyết nhu cầu được nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Trong số đó,nhà tâm lý học Abraham Maslowđưa ra tháp nhu cầu được vào năm 1943 và được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)gồm: Nhu cầu cơ bản: ăn uống, hít thở không khí; Nhu cầu về an toàn: an ninh, nhà ở, việc làm; Nhu cầu xã hội: được hòa nhập; Nhu cầu được quý trọng: được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội; Nhu cầu được thể hiện mình: hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực cá nhân…Hệ thống nhu cầu của A.Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp. Nhu cầu ở bậc thấp thì xếp ở dưới.
Các nhu cầu trên luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu,tôi tìm hiểu nhu cầu của các em tại Làng trẻ em SOS Thái Bình theo năm bậc thang về nhu cầu và tìm hiểu xem trẻ em mồ côicó nhu cầu đáp ứng những gì? Đáp ứng như thế nào? Vận dụng thuyết nhu cầu để đánh giá nhu cầu nâng cao hoạt động CTXH đối với trẻ mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Đặc biệt tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích sâu hơn về các nhu cầu cơ bản và nhu cầu nâng cao hiệu quả CTXH trong hỗ trợ hòa nhập cộng đồng đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Nhằm có những đánh giá về việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp dạy nghề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ mồ côi hiện đang sống tại Làng trẻ em SOS Thái Bình, cũng như đánh giá được vai trò của cán bộ quản lý, các nhân viên công tác xã hội của Làng trẻ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống cho trẻ giúp các em hòa nhập cộng đồng.
13 * Thuyết học tập xã hội của Bandura Nội dung thuyết học tập xã hội Bandura đã có nhiều thí nghiệm từ thực tế và ông đã đưa ra thuyết học tập xã hội hay còn gọi là “Học từ quan sát hay rập khuôn”. Qua thí nghiện thực tế ông đã chỉ ra rằng trẻ em thay đổi hành vi của mình nhưng không cần được thưởng hay có những tính toán trước đó và đây là hiện tượng học bằng cách quan sát hay rập khuôn, ông đã thiết lập một hệ thống thao tác thực nghiệm bao gồm các bước như sau: Thứ nhất, sự chú ý: Khi chúng ta muốn học một điều gì đó sẽ buộc phải tập trung tư tưởng và bất kể những cản trở trong quá trình tập trung nào cũng đều làm giảm đi khả năng vào việc học tập qua cách quan sát. Thứ hai, giữ lại: Là khả năng lưu giữ trí nhớ về những gì chúng ta đã tập trung chú ý vào. Đây là giai đoạn những chuỗi hình ảnh hay ngôn ngữ có những đóng góp vào quá trình lưu trữ.
Chúng ta nhớ những gì đã được nhìn thấy từ mô hình mẫu qua hình thái của những chuỗi hình ảnh trong tâm thức hay qua những mô tả ngôn từ. Sau này khi cần truy cập những dữ kiện đã được lưu trữ, chúng sẽ chỉ cần đến những hình ảnh trong hệ tâm thức và những mô tả. Từ đó chúng ta có thể diễn lại mô hình mẫu bằng chính những hành vi của chúng ta. Thứ ba, lặp lại: vào lúc này, cá nhân sẽ chuyển tải những hình ảnh trong hệ tâm thức hay những mô tả ngôn ngữ trở thành hành vi thật sự.
Điều này xảy ra cho phép mỗi chúng ta có khả năng lập lại và tái diễn hành vi ban đầu. Thứ tư, động cơ: là một bộ phận quan trọng trong quá trình học tập một thao tác mới. Chúng ta có mô hình mẫu hấp dẫn, có trí nhớ, và khả năng bắt chước, nhưng nếu không sẽ không thể học tập hiệu quả được. Bandura đã nêu rõ sự củng cố trong quá khứ là nét chính của thuyết hành vi truyền thống; Sự củng cố được hứa trước như một phần thưởng mà chúng ta tưởng tượng ra; Sự củng cố ngầm, hiện tượng chúng ta nhìn và nhớ về mô hình được củng cố.
Vận dụng thuyết học tập xã hội của Bandura vào công tác xã hội trong việc 14 hỗ trợ hòa nhập cộng đồng đối với trẻ mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Từ việc nghiên cứu thuyết học tập xã hội của Bandura, học viên đã ứng dụng trong việc tìm hiểu, đánh giá về khả năng quan sát, học tập, khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Qua những đánh giá, nhìn nhận thực trạng về một số khó khăn của trẻ trong hòa nhập cộng đồng, để từ đó xác định được nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập của trẻ và đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH trong trợ giúp trẻ em hòa nhập cộng đồng. Tầm quan trọng của CTXH trong việc trợ giúp trẻ em mồ côi hòa nhập cộng đồng Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng đến giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng của họ thông qua việc thực hiện vai trò một cách hiệu quả.
Dù họ là ai? Gặp phải vấn đề gì? Nhu cầu của họ là gì? Giải quyết như thế nào? Nhân viên CTXH luôn luôn tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng.