Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 3: Mục tiêu, Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Định 9 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trẻ em Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm ngƣời trong xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con ngƣời.
Đó là những ngƣời chƣa trƣởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thƣơng, cần đƣợc bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau khi ra đời. Tuân theo nguyên lý phát triển của chủ nghĩa duy vật, sự phát triển của con ngƣời cũng trải qua nhiều giai đoạn đó là những giai đoạn lứa tuổi. Tính chất đặc thù của mỗi giai đoạn là cơ sở để xác định ranh giới giữa trẻ em và ngƣời lớn, các quốc gia trên thế giới đều căn cứ vào tiêu chí duy nhất là độ tuổi. Tuy nhiên, độ tuổi đƣợc xác định là trẻ em ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Theo Công ƣớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) năm 1989 định nghĩa trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi. Ở Việt Nam, theo Luật BVCSGDTE năm 2004 xác định “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi”. Theo quy định này, những trẻ em dƣới mƣời sáu tuổi và là công dân Việt Nam mới đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em. Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi".
Qua khái niệm này, chúng ta thấy có sự thay đổi so với trƣớc đây, đó là tất cả trẻ em dƣới mƣời sáu tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay ngƣời có quốc tịch, ngƣời không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều đƣợc bảo vệ, chăm sóc giáo dục nhƣ nhau. Bảo vệ trẻ em BVTE là trách nhiệm của nhà nƣớc, gia đình và mọi công dân trong xã hội đối với việc đảm bảo an toàn cho trẻ em khỏi bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng, bao gồm cả việc loại bỏ những nguy cơ gây tổn hại và ngăn chặn các yếu tố đang gây tổn hại cho trẻ. BVTE là những dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp hƣớng tới việc can thiệp khẩn cấp và giúp đỡ các em đang có nguy cơ hoặc đã bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng nhằm ngăn chặn, giúp phục hồi và tái hòa nhập cho trẻ em. Luật Trẻ em năm 2016 đƣa ra định nghĩa về BVTE nhƣ sau: "Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em đƣợc sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có HCĐB".
Nhƣ vậy, với cách tiếp cận về BVTE theo từng cấp độ cụ thể từ bảo đảm môi trƣờng sống an toàn cho trẻ em đến việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm hại trẻ em và trợ giúp khi trẻ em rơi vào HCĐB, Luật Trẻ em đã đƣa ra đƣợc khái niệm khá toàn diện về BVTE. Trẻ em không phân biệt gái, trai, dân tộc, tín ngƣỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội … đều đƣợc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đƣợc hƣởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em có vị trí rất quan trọng. Chu trình chính sách nếu khuyết thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có vai trò trung tâm, kết nối các bƣớc trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em để từng bƣớc thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách bảo vệ trẻ em có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Thực 11 tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt đƣợc mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hƣởng đến các mục tiêu chung. Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em còn để khẳng định đƣợc tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách.
Chính sách này khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, và khi chính sách đƣợc xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của chính sách. Hệ thống chính sách bảo vệ trẻ em 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách bảo vệ trẻ em Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đƣợc gìn giữ, tôn trọng và phát huy. Trẻ em luôn đƣợc coi là nhân tố quan trọng trong đƣờng lối, chiến lƣợc phát triển con ngƣời của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho những chủ nhân nhỏ tuổi của đất nƣớc vì "Ngày nay các cháu là nhi đồng. Ngày sau các cháu là ngƣời chủ của nƣớc nhà, của thế giới". Ngƣời còn căn dặn: "Vì lợi ích mƣời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngƣời". Trong suốt tiến trình cách mạng dƣới sự lãnh đạo của Đảng, dù ở thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc trƣớc đây cho đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay thì vấn đề BVTE luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm và thể hiện trong chủ trƣơng, đƣờng lối lãnh đạo của Đảng.
Các chủ trƣơng, chính sách của Đảng về BVTE đƣợc quy định trong nhiều văn kiện nhƣng đáng chú ý là Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 28/6/2000 Bộ Chính trị về tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, trong đó yêu cầu hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm hại đối với trẻ em. Có biện pháp giải quyết tốt một số mục tiêu quan trọng nhƣ: Tích cực phòng chống tình trạng dụ dỗ trẻ em tham gia buôn bán và nghiện hút ma túy, trẻ em 12 bị xâm hại, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em lang thang kiếm sống. Ngày 5/11/2012 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20/CT-TW về việc “Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới”. Trong đó, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và BVTE; phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại, bạo lực, lôi kéo trẻ em vào hoạt động tội phạm và cản trở việc thực hiện các quyền của trẻ em.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và BVTE. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngƣợc đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lọt sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (khoản 1 Điều 37). Luật BVCSGDTE năm 2004 thay thế cho Luật BVCSTE năm 1991 và kế thừa, phát huy những hiệu quả của Luật năm 1991 về vấn đề trẻ em nhƣng đồng thời tiếp thu có chọn lọc các quy định của pháp luật các nƣớc và văn kiện quốc tế; sửa đổi, bổ sung những quy định để điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, bảo đảm phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nƣớc có nhiều thay đổi, sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới tácđộng đến công tác BVCSTE.
Vì thế, Luật BVCSGDTE năm 2004 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không đáp ứng yêu cầu của các vấn đề mới phát sinh, đặc biệt là vấn đề về BVCSTE. Vì vậy, ngày 05 tháng 4 năm 2016, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em gồm 7 chƣơng với 106 điều (tăng 46 điều so với Luật BVCSGDTE 2004). Luật Trẻ em 2016 ra đời là cơ sở pháp lý cao nhất quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách 13 nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em. Để cụ thể hóa thực hiện Luật Trẻ em, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.
Thủ tƣớng Chính phủ đã phê duyệt Chƣơng trình BVTE giai đoạn 2016- 2020 và Chƣơng trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020, trong đó có dự án Phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em. Đồng thời, ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 về việc tăngcƣờng giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Ngày 26/5/2020 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tăng cƣờng các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em. Đây là cơ sở pháp lý để các ban, ngành và cả hệ thống chính trị vào cuộc chăm lo cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nƣớc.
Trong những năm gần đây, quan điểm về chăm sóc, bảo vệ trẻ em của Đảng, Chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng. Xác định rõ vị trí và tầm quan trọng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em gắn với mục tiêu phát triển đất nƣớc theo hƣớng bền vững và hội nhập, các quan điểm về bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã hƣớng tới đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em là của toàn thể các cấp đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội và của toàn thể xã hội.