Công tác xã hội nhóm giúp nữ sinh viên phòng ngừa quấy rối tình dục

Luận án tiến sĩ phân tích công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Công Tác Xã Hội

Tác giả

Lê Thị Lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

232
35
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quấy rối tình dục và công tác xã hội nhóm

Luận án tập trung vào vấn đề quấy rối tình dục (QRTD) - một vấn nạn nhức nhối trong xã hội hiện nay, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phụ nữ và trẻ em. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa QRTD, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như nữ sinh viên. Luận án cũng đề cập đến vai trò của công tác xã hội (CTXH), cụ thể là CTXH nhóm, trong việc hỗ trợ phòng ngừa QRTD. Theo tác giả, CTXH nhóm là một phương pháp tiếp cận mới mẻ và hiệu quả ở Việt Nam, giúp trang bị cho nữ sinh viên kiến thức và kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ mình. Việc áp dụng CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD không chỉ giúp bảo vệ nữ sinh viên mà còn có ý nghĩa trong việc đào tạo đội ngũ chuyên gia tâm lý, nhân viên CTXH, giáo viên… cho tương lai. Điều này thể hiện rõ qua trích dẫn: "Nếu ứng dụng CTXH trong đó có CTXH nhóm theo hướng chuyên nghiệp vào việc phòng ngừa QRTD cho học sinh, sinh viên là hướng tiếp cận mới ở Việt Nam hiện nay." Tác giả cũng chỉ ra rằng sinh viên là nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị QRTD do nhiều yếu tố như sống xa nhà, môi trường sống thiếu an toàn, đi làm thêm…

II. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc dựa trên các lý thuyết về hành vi con người, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa Việt Nam. Các lý thuyết được đề cập bao gồm Thuyết nhu cầu của Maslow, Lý thuyết tương tác biểu trưng, Lý thuyết hệ thống, Thuyết vai trò và Lý thuyết nữ quyền. Việc vận dụng các lý thuyết này giúp lý giải hành vi của nạn nhân và người gây ra QRTD, đồng thời cung cấp nền tảng cho việc xây dựng và triển khai hoạt động CTXH nhóm. Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm nghiên cứu văn bản, phương pháp chuyên gia, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát và thực nghiệm. Phương pháp thực nghiệm được sử dụng để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của hoạt động CTXH nhóm trong việc phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên. Việc kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu giúp đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. "Phương pháp thực nghiệm được tiến hành nhằm xem xét tính khả thi của hoạt động CTXH nhóm trong hình thành kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên."

III. Thực trạng và đề xuất hoạt động CTXH nhóm

Luận án đánh giá thực trạng CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên tại Đà Nẵng. Kết quả cho thấy năng lực phòng ngừa QRTD của nữ sinh viên còn hạn chế, đồng thời các hoạt động CTXH nhóm hiện có chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu và chưa mang đầy đủ bản chất của phương pháp này. Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, luận án đề xuất một hoạt động CTXH nhóm mới, được thiết kế phù hợp với trình độ hiểu biết của sinh viên, tập trung vào việc hình thành và củng cố kiến thức, kỹ năng phòng ngừa QRTD. Hoạt động này được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của nữ sinh viên về kiến thức, kỹ năng cũng như các yếu tố cá nhân. "Năng lực phòng ngừa QRTD của nữ sinh viên còn nhiều hạn chế... mặc dù đã có những hoạt động CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD nhất định nhưng nhìn chung chưa mang đầy đủ đặc điểm và bản chất của phương pháp công tác xã hội nhóm." Luận án cũng nhấn mạnh việc thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hoạt động đề xuất, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện.

IV. Đóng góp và ý nghĩa của luận án

Luận án có nhiều đóng góp mới về mặt khoa học, đặc biệt trong bối cảnh nghiên cứu về phòng ngừa QRTD và CTXH còn hạn chế ở Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa lý luận về CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD, làm rõ khái niệm, nội dung, tiến trình và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả của hoạt động CTXH nhóm đề xuất trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên. Về ý nghĩa thực tiễn, luận án góp phần cung cấp tài liệu tham khảo valuable cho việc phát triển ngành CTXH ở Việt Nam. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể được ứng dụng trong việc xây dựng và triển khai các chương trình phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên, hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng an toàn và không bạo lực. "Luận án góp phần cung cấp tài liệu tham khảo về CTXH trong bối cảnh đây là một ngành, nghề còn non trẻ ở Việt Nam; Đồng thời đó cũng là sự chung tay hướng đến xây dựng cộng đồng an toàn, không bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái."

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/12/2024
Luận án tiến sĩ công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục Chương 3. Phương pháp nghiên cứu về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục Chương 4: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên Đà Nẵng hiện nay Chương 5: Thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục.

6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Để góp phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến vấn đề quấy rối tình dục (QRTD) và CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD một cách hệ thống và toàn diện, sâu sắc, luận án đã tiến hành tổng hợp phân tích các nghiên cứu đã có, chọn lọc và kế thừa những kết quả của nhiều công trình trong và nước ngoài, đồng thời tiếp tục làm rõ những nhiệm vụ đặt ra về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu. Tổng quan tài liệu cung cấp một cái nhìn phổ quát vấn đề nghiên cứu, từ khái niệm quấy rối tình dục, nguyên nhân, thủ phạm, CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD. Các nghiên cứu về quấy rối tình dục Trên thế giới: Các nghiên cứu về quấy rối tình dục cho thấy những góc nhìn khác nhau trong định nghĩa về quấy rối tình dục và dù được tiếp cận từ rất sớm đặc biệt là Mỹ và Tây Âu nhưng trong định nghĩa về quấy rối tình dục vẫn còn nhiều tranh cãi, khó thống nhất. Thuật ngữ "quấy rối tình dục" xuất hiện từ Bắc Mỹ vào giữa những năm 1970 trong công trình của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau.

Việc xác định nguyên nhân của quấy rối tình dục là vấn đề mà những nghiên cứu ban đầu này hướng đến. Như với nhiều thuật ngữ, việc đưa ra một định nghĩa có tính phổ quát duy nhất là điều rất khó khăn, khó có thế phân định ranh giới giữa quấy rối tình dục và các biểu hiện tình dục khác. Các mối quan hệ tình dục tại nơi làm việc không phải lúc nào cũng phù hợp, nhưng cũng không phải lúc nào cũng là quấy rối tình dục và gây hại. Thực tế, một số người cho rằng tán tỉnh, đùa giỡn, và thậm chí là khiêu dâm trong công việc có thể là thú vị, vì nó có thể giúp làm cho không khí tại nơi làm việc bớt căng thẳng.

Một vấn đề khác cũng được đề cập trong định nghĩa về quấy rối tình dục gây nhiều tranh cãi đó là phạm vi ảnh hưởng của quấy rối tình dục chỉ tác động tiêu cực đến những nạn nhân hay cả những người xung quanh và những đồng nghiệp. Trong một số nghiên cứu ở Mỹ cho rằng quấy rối tình dục không chỉ ảnh hưởng đến những người mà nó hướng tới (người gây ra và người bị) mà còn tạo ra một môi trường làm việc thù địch ảnh hưởng đến nhiều người khác. Quấy rối tình dục đã trở thành một trong những lĩnh vực thu hút nhiều quan tâm của xã hội nhưng cũng dễ bị hiểu nhầm nhất trong luật. Trong một nghiên cứu, Schultz (1998) cho rằng Luật pháp và dư luận xã hội đang có một quan niệm quá hẹp về môi trường làm việc thù địch và quấy rối hoặc lạm dụng tình dục tại nơi làm việc; sách nhiễu tình dục tại nơi làm việc đang được tiếp cận ở góc độ các vấn đề về giới nhưng lại không có nội dung đề cập đến tình dục.

7 Nhìn chung dường như có những tranh cãi khi đưa ra định nghĩa về quấy rối tình dục, trong bài viết tổng quan về quấy rối tình dục của Afroditi Pina và cộng sự (2009), nhận định rằng dường như chưa có sự thống nhất khi đưa ra định nghĩa về quấy rối tình dục, và các nội dung then chốt đang xoay quanh ba vấn đề chính (i) dấu hiệu cụ thể của quấy rối tình dục (ví dụ: những hành vi phi ngôn ngữ có phải là quấy rối tình dục) (ii) liệu chỉ có những nạn nhân mới bị những ảnh hưởng tiêu cực từ quấy rối tình dục, (iii) liệu rằng phân biệt đối xử nam nữ hiện hữu như là một cách thức của hành vi quấy rối tình dục. Ở Mỹ, trong quy định của pháp luật, quấy rối tình dục là một hình thức phân biệt đối xử về giới tính bao gồm: "Những theo đuổi tình dục không mong muốn, yêu cầu quan hệ tình dục, và những hành vi thể chất và phi ngôn ngữ khác mang tính chất tình dục. Hơn nữa, hành vi đó "rõ ràng hoặc ngầm tác động tới việc làm của một cá nhân, gây trở ngại bất hợp lý đến việc thực hiện công việc của một cá nhân, hoặc tạo ra một môi trường làm việc hăm dọa, thù địch hoặc xúc phạm "(EEOC, tháng 3, 2008). Theo Ủy ban Cơ hội Việc làm ình đẳng của Hoa Kỳ (Tháng 3 năm 2008), quấy rối tình dục là hành vi vi phạm Điều VII của Đạo luật Quyền Công dân năm 1964 và Đạo luật về Quyền Công dân năm 1991 sửa đổi một số điều của Đạo luật 1964, mục VII "cấm phân biệt nghề nghiệp dựa trên chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính và nguồn gốc quốc gia" (EEOC, tháng 3, 2008).

Quấy rối tình dục có thể xảy ra trong nhiều trường hợp khác nhau và có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở các hành vi sau đây: a) nạn nhân cũng như thủ phạm quấy rối có thể là phụ nữ hoặc đàn ông. Nạn nhân không phải là người khác giới, b) người quấy rối có thể là người giám sát của nạn nhân, người sử dụng lao động, người giám sát ở một khu vực khác, đồng nghiệp, hoặc không phải là nhân viên, c) quấy rối tình dục (bất hợp pháp) có thể xảy ra mà không gây ra thiệt hại về kinh tế của nạn nhân, e) hành vi quấy rối của người đó không được hoan nghênh (EEOC, tháng 3, 2008). Nếu bất kỳ hành vi nói trên xảy ra, thì có trường hợp quấy rối tình dục theo luật pháp Hoa Kỳ (EEOC, 2008). Tòa án tối cao Hoa Kỳ về bản chất đưa ra các quyết định về việc quấy rối tình dục sau đó được giải thích và áp dụng khi cần thiết bởi các bang riêng l của Hoa Kỳ.

Ở Anh, cho đến tháng 10 năm 2005, luật pháp Anh vẫn chưa đưa ra một qui định cụ thể nào về quấy rối tình dục, mặc dù quấy rối tình dục đã được đề cập trong một số đoạn của Đạo luật Phân biệt Giới tính (SDA, 1975) dưới sự phân biệt bất hợp pháp trên cơ sở tình dục. Sự thay đổi trong Chỉ thị Điều trị công bằng, 2002/73/EEC (luật Lao động Châu Âu), được đưa ra vào ngày 23 tháng 9 năm 2002, đã yêu cầu các Quốc gia thành viên quy định cụ thể vấn đề quấy rối tình dục. Do đó, việc đưa ra Đạo luật Phân biệt Kỳ thị năm 1975 phần 4A được thiết kế để thực hiện chỉ thị, trong đó 8 đưa ra một định nghĩa cụ thể về quấy rối tình dục trong Chỉ thị 76/207/ EEC (Luật Việc làm Anh, 2007). Đạo Luật phân biệt kỳ thị năm 1975 (Sửa đổi) (2008) có hiệu lực vào ngày 6 tháng 4 năm 2008, đề cập: 1) một người được xem là đối tượng quấy rối tình dục phụ nữ nếu: (a) Người đó liên quan đến hành vi tình dục không mong muốn, dẫn đến (i) vi phạm phẩm giá của phụ nữ hoặc (ii) tạo ra một môi trường đe doạ, thù địch, hạ thấp, làm nhục hoặc gây khó chịu cho người phụ nữ.

(b) Người đó tham gia vào bất kỳ dạng hành vi có tính chất tình dục không mong muốn, bằng miệng, phi ngôn ngữ hoặc thể chất nào một cách có mục đích (i) vi phạm phẩm giá của người phụ nữ hoặc (ii) tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, hoặc tạo môi trường gây khó chịu, hoặc (c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo những hành vi không mong muốn được đề cập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô ấy kém thiện chí hơn nếu cô ấy từ chối. 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được đề cập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đến tất cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là có hiệu quả "(Ủy ban ình đẳng và Nhân quyền, tháng 10, 2008). hoặc (ii) tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, Hoặc môi trường gây khó chịu cho cô ấy, hoặc (c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo những hành vi không mong muốn được đề cập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô ấy kém thuận lợi hơn anh ta nếu cô ấy không từ chối , Hoặc trình bày, hành vi. 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được đề cập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đến tất cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là có hiệu quả "(Ủy ban Bình đẳng và Nhân quyền (EEOC), tháng 10, 2008).

Quấy rối tình dục ảnh hưởng đến nhiều người, chiếm tỷ lệ phần trăm lớn nhất so với các hình thức kỳ thị khác (Bargh, Raymond, Pryor, & Strack, 1995), Spitzberg,. (1999) đã xem xét 120 nghiên cứu liên quan đến hơn 100.000 người tham gia, kết quả tỷ lệ thống kê và thấy rằng, trên thực tế, hành vi quấy rối tình dục và cưỡng ép thường phổ biến hơn so với các hình thức xâm phạm tình dục mạnh mẽ nhất. Mặc dù không phải lúc nào quấy rối tình dục cũng là một hành động thường xuyên gây ra bởi nam giới với phụ nữ (Bargh, 1995). Tại Hoa Kỳ, cuộc điều tra thống kê gần đây nhất được tiến hành bởi Ủy ban Bảo vệ Hệ thống Merit Hoa Kỳ (USMSPB, 1995) khảo sát nhân viên trong chính phủ liên bang.

Cuộc khảo sát này là sự tiếp nối của hai cuộc điều tra trước của USMSPB (1981, 1988). Những phát hiện của họ cho thấy hầu hết tất cả (93%) trong số 44% phụ nữ cho biết thủ phạm quấy rối tình dục là nam giới. Tuy nhiên, 65% trong số 19% nam giới cho 9 biết thủ phạm của những hành vi quấy rối tình dục là phụ nữ. Thêm vào đó, nhận thức về các hành vi gây quấy rối tình dục dường như đã tăng lên trong khoảng thời gian giữa năm 1980 và năm 1994, đặc biệt là tỷ lệ hình thức nam giới thực hiện trêu đùa có yếu tố tình dục không mong muốn và nhận xét gợi dục tăng từ 42% lên 64%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tựa đề Công tác xã hội nhóm giúp nữ sinh viên phòng ngừa quấy rối tình dục của tác giả Lê Thị Lâm, dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Mai Hương và TS. Đỗ Thị Vân Anh, được thực hiện tại Học Viện Khoa Học Xã Hội vào năm 2020. Bài viết tập trung vào việc áp dụng công tác xã hội nhóm như một phương pháp hiệu quả để nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng cho nữ sinh viên trong việc phòng ngừa quấy rối tình dục. Các điểm chính của bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ lẫn nhau trong nhóm và cách thức mà các hoạt động nhóm có thể tạo ra một môi trường an toàn và tích cực cho nữ sinh viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến giáo dục và quản lý trong lĩnh vực xã hội, bạn có thể tham khảo bài viết Danh mục luận văn luận án chuyên ngành giáo dục học và quản lý giáo dục đại học quốc gia thành phố hồ chí minh. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục, có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề giáo dục hiện nay.

Ngoài ra, bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Quan Điểm Sư Phạm Tích Hợp Trong Dạy Học Khoa Học Xã Hội Ở Trường Sĩ Quan Quân Đội cũng có thể mang lại cho bạn những góc nhìn về phương pháp giảng dạy tích hợp trong lĩnh vực khoa học xã hội, điều này liên quan mật thiết đến việc phát triển kỹ năng cho sinh viên.

Cuối cùng, bài viết Luận Án Tiến Sĩ Về Quan Điểm Sư Phạm Tương Tác Trong Dạy Học Các Môn Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn sẽ cung cấp thêm thông tin về phương pháp giảng dạy tương tác, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục và phòng ngừa các vấn đề xã hội.

Những bài viết này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về các vấn đề xã hội và giáo dục hiện nay.