Tổng quan luận án
Vấn đề quấy rối tình dục (QRTD) và bạo lực giới đối với phụ nữ và trẻ em gái đang là thực trạng xã hội gây nhiều lo ngại. Theo số liệu khảo sát của UNIFEM (nay là UN Women) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 87% phụ nữ và trẻ em gái từng bị quấy rối tình dục tại nơi công cộng và nơi làm việc; 89% nam giới và người chứng kiến đã thấy các hành vi này; đáng chú ý có 66% nạn nhân không phản ứng và 65% người chứng kiến không can thiệp. Ở môi trường giáo dục đại học, nữ sinh viên là nhóm đối tượng có nguy cơ cao do đặc điểm sống xa gia đình, điều kiện nhà trọ chưa đảm bảo an toàn, tham gia làm thêm và thường xuyên sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Khảo sát sơ bộ 66 sinh viên tại Đà Nẵng ghi nhận 39,3% từng chứng kiến người khác bị QRTD, 21,3% từng là nạn nhân, và 88,5% chỉ ra hành vi sờ mó, đụng chạm cố ý vào cơ thể. Mặc dù Đề án 32 năm 2010 của Chính phủ và Quyết định 327/QĐ-BGDĐT năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã định hướng phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong trường học, việc ứng dụng CTXH nhóm vào phòng ngừa QRTD cho sinh viên vẫn còn là khoảng trống nghiên cứu ở Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD, đề xuất và thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm nhằm hình thành và củng cố năng lực phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên.
Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề phòng ngừa QRTD.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD.
- Đánh giá nhu cầu tham gia hoạt động CTXH nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD của sinh viên.
- Đánh giá thực trạng hoạt động CTXH với nhóm trong phòng ngừa QRTD cho sinh viên, làm rõ vai trò của CTXH nhóm trong hình thành kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên.
- Đề xuất và thử nghiệm hoạt động CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD.
Hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm được đặt ra:
- (i) Các biện pháp CTXH nào đã được áp dụng nhằm giúp sinh viên tại địa bàn nghiên cứu phòng ngừa với QRTD, các biện pháp đó giúp nữ sinh viên phòng ngừa với QRTD ở mức độ nào, có đáp ứng được với nhu cầu của nữ sinh viên không?
- (ii) Có thể tổ chức hoạt động CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa QRTD cho sinh viên dựa vào trường học một cách có hiệu quả không; nếu thực hiện thì quy trình, nội dung, cách thức thực hiện như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục. Khách thể nghiên cứu bao gồm nữ sinh viên đang học tập tại các trường đại học tại Thành phố Đà Nẵng; cán bộ quản lý, nhân viên xã hội tại các trung tâm, cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH; cán bộ quản lý và giảng viên tại các trường đại học trên địa bàn. Phạm vi nội dung tập trung vào xây dựng và thử nghiệm hoạt động CTXH nhóm dựa trên nhu cầu và thiếu hụt kiến thức, kỹ năng cá nhân của nữ sinh viên. Thời gian nghiên cứu triển khai từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan các hướng nghiên cứu quốc tế và trong nước về quấy rối tình dục và các mô hình can thiệp:
- Khái niệm và khung pháp lý quốc tế: Khái niệm xuất hiện tại Bắc Mỹ từ giữa thập niên 1970. Schultz (1998) và Afroditi Pina cùng cộng sự (2009) chỉ ra sự thiếu thống nhất về ranh giới hành vi và tác động môi trường. Tại Mỹ, Ủy ban Cơ hội Việc làm Bình đẳng (EEOC, 1964, 1991, 2008) xác định QRTD là hành vi phân biệt đối xử theo Điều VII Đạo luật Quyền Dân sự. Tại Anh, Đạo luật Phân biệt Giới tính (SDA 1975, sửa đổi 2008) và các Chỉ thị 2002/73/EEC, 76/207/EEC của Liên minh Châu Âu quy định cụ thể về các hành vi vi phạm phẩm giá phụ nữ.
- Tần suất và công cụ đo lường: Thống kê của USMSPB (1981, 1988, 1995) tại Mỹ ghi nhận 93% phụ nữ chỉ ra thủ phạm là nam giới và 77% thủ phạm là đồng nghiệp. Nghiên cứu của Timmerman & Bajema (1998), Alemany (1998), Gruber (1992) với tỷ lệ trung bình 44%, O'Hare & O'Donohue (1998) trên 266 phụ nữ cho thấy các dạng thức phổ biến bằng lời nói và phi ngôn ngữ. John B. Pryor (1987) phát triển thang đo Likelihood to Sexually Harass Scale (LSH) đánh giá khuynh hướng QRTD; các nghiên cứu của Anne Maass và cộng sự (2003), Dall'Ara & Maass (1999), Siebler và cộng sự (2008) ứng dụng mô hình thực nghiệm máy tính xác định mối liên hệ giữa căn cước giới tính và hành vi quấy rối. Các thang đo khác gồm Gruber (1992), Fitzgerald và cộng sự (1988, 1995, 1999), Barling và cộng sự (1996), Bingham & Burleson (1996).
- Tác động tâm lý và trị liệu: Loy & Stewart (1984), Crull (1982) khảo sát 262 phụ nữ tại Viện Nghiên cứu Việc làm Phụ nữ; Schneider (1991); Koss (1990) đối chiếu các phản ứng tâm lý với tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA, 1994); Salisbury và cộng sự (1986); Livingston (1982). Về can thiệp thủ phạm, các công trình của Sbraga & O'Donohue (2000), Brewer (1982), Cortoni & Marshall (2001), Marshall, Serran & Fernandez (2006) chỉ ra những thiếu hụt về điều tiết cảm xúc nhưng chưa có mô hình can thiệp nhóm trị liệu chuẩn hóa cho người quấy rối.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ bảo vệ trẻ em; Trung tâm CEFACOM (2017) với dữ liệu Tổng đài quốc gia 111 (trước đây là 18001567); Dự án Tuổi thơ của World Vision; cẩm nang của Save the Children (2014); khóa học của Giap's School; Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, VCCI, ILO, 2015); ấn phẩm của Care Australia (2018); chiến dịch của Better Work và Đại học Hà Nội.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn công trình trong nước tập trung vào trẻ em, học sinh phổ thông hoặc công nhân tại nơi làm việc; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa QRTD dành riêng cho đối tượng nữ sinh viên đại học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 5 lý thuyết khoa học xã hội:
- Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Phân tích nhu cầu an toàn thân thể và tinh thần của nữ sinh viên khi đối mặt với môi trường có nguy cơ QRTD.
- Lý thuyết tương tác biểu trưng: Lý giải cách thức sinh viên gán ý nghĩa cho các cử chỉ, hành vi, lời nói có tính gợi dục và cách ứng phó trong bối cảnh văn hóa giao tiếp.
- Lý thuyết hệ thống: Xem xét cá nhân sinh viên trong mối tương tác đa chiều với môi trường gia đình, nhà trường, ký túc xá, khu trọ và các thiết chế xã hội.
- Thuyết vai trò: Giải thích định kiến về vai trò giới, kỳ vọng xã hội và sự phân bổ quyền lực giữa nam giới và nữ giới.
- Lý thuyết nữ quyền: Phân tích nguồn gốc bất bình đẳng giới, tư tưởng phụ quyền, gia trưởng và hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân trong xã hội truyền thống.
Khái niệm công cụ được vận dụng: Quấy rối tình dục theo định nghĩa của UN Women (các hành vi, cử chỉ, nhận xét gợi dục không mong muốn, không có sự đồng thuận, gây khó chịu về tâm lý hoặc tổn hại thể chất); Khái niệm phòng ngừa 3 cấp độ (cấp 1: nâng cao nhận thức diện rộng; cấp 2: can thiệp nhóm nguy cơ; cấp 3: hỗ trợ phục hồi và chống tái diễn); Khái niệm công tác xã hội nhóm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khái quát hóa hệ thống lý luận và kinh nghiệm can thiệp.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia liên ngành về CTXH, tâm lý học và giới.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Thu thập dữ liệu định lượng về thực trạng kiến thức, kỹ năng và nhu cầu (khảo sát chính thức N = 618 nữ sinh viên; khảo sát đánh giá mức độ đáp ứng N = 170).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Khai thác trải nghiệm thực tế và rào cản ứng phó của sinh viên, cán bộ quản lý và nhân viên xã hội.
- Phương pháp quan sát: Đánh giá tương tác, thái độ và sự thay đổi hành vi của nhóm viên trong quá trình sinh hoạt nhóm.
- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế và vận hành mô hình CTXH nhóm thử nghiệm theo tiến trình 4 giai đoạn, thực hiện đánh giá trước và sau tác động (pre-test và post-test).
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 22 để tính toán điểm trung bình (ĐTB), trung bình cộng (TBC), độ lệch chuẩn (ĐLC) và kiểm định so sánh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế từ Bắc Mỹ, Châu Âu đến Châu Á và các công trình tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra 3 đặc điểm nổi bật: QRTD là hành vi bạo lực phổ biến mà nạn nhân chủ yếu là nữ giới, biểu hiện phi vật chất chiếm tỷ lệ cao nhưng khó xử lý pháp lý; các chương trình phòng ngừa quốc tế cho thấy hiệu quả can thiệp đa dạng nhưng thiếu chuẩn hóa đánh giá; tại Việt Nam, các can thiệp trường đại học còn phân tán và chưa áp dụng bài bản tiến trình CTXH nhóm.
Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
Chương 2 chuẩn hóa hệ thống khái niệm, phân loại hành vi QRTD thành 3 nhóm: thể chất (đụng chạm, sờ mó, ôm hôn không mong muốn, cưỡng hiếp), lời nói (bình phẩm cơ thể, trêu ghẹo thô tục, gợi ý tình dục), và phi lời nói (nhìn chằm chằm, phô bày bộ phận sinh dục, gửi hình ảnh khiêu dâm qua mạng xã hội). Tác giả phân tích các nguyên nhân gốc rễ: tư tưởng Nho giáo gia trưởng, sự mất cân bằng quyền lực giới, hạ tầng công cộng thiếu an toàn (đèn chiếu sáng kém), khoảng trống chế tài pháp lý, và văn hóa im lặng do sợ bị kỳ thị, đổ lỗi. Tiến trình CTXH nhóm phòng ngừa QRTD được xác lập gồm các bước chuẩn bị, hình thành, duy trì hoạt động và kết thúc lượng giá.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu tại Thành phố Đà Nẵng, mô tả công cụ bảng hỏi, khung chọn mẫu sinh viên từ các trường đại học thành viên, quy trình phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và giảng viên, cùng các tiêu chí đo lường định lượng được chuẩn hóa trên phần mềm SPSS 22.
Chương 4: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên Đà Nẵng hiện nay
Dữ liệu khảo sát N = 618 nữ sinh viên cho thấy nhu cầu cấp thiết về trang bị kiến thức nhận diện và kỹ năng tự bảo vệ. Đánh giá trên nhóm N = 170 sinh viên từng tiếp cận dịch vụ cho thấy các hoạt động hiện tại chủ yếu mang tính phong trào, đơn lẻ, chưa đáp ứng đầy đủ bản chất tương tác chiều sâu của CTXH nhóm.
| Nhóm nội dung khảo sát thực trạng |
Chỉ báo và số liệu ghi nhận trong văn bản |
| Nhu cầu của nữ sinh viên (N = 618) |
- Khảo sát nhu cầu về các loại hình CTXH hỗ trợ phòng ngừa QRTD. - Khảo sát nhu cầu về kiến thức nhận diện, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự vệ và tìm kiếm trợ giúp. - Khảo sát nhu cầu về địa điểm, thời gian, hình thức tổ chức sinh hoạt nhóm. |
| Đánh giá mức độ đáp ứng (N = 170) |
- Đánh giá mức độ đáp ứng của các hoạt động CTXH hiện có so với kỳ vọng. - Phản ánh sự thiếu hụt các mô hình can thiệp nhóm chuyên sâu và có cấu trúc. |
| So sánh nhóm tham gia và không tham gia CTXH nhóm |
- So sánh khả năng nhận diện các biểu hiện và hậu quả của QRTD. - So sánh khả năng nhận diện tình huống, địa điểm, đối tượng có nguy cơ gây QRTD. - So sánh số lượng và mức độ hiệu quả của các cách thức ứng phó được sử dụng. |
Chương 5: Thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
Tác giả thiết kế và vận hành mô hình can thiệp thực nghiệm dựa trên tiến trình 4 giai đoạn, bao gồm các hợp phần rèn luyện kỹ năng cốt lõi. Kết quả lượng giá trước và sau thử nghiệm ghi nhận sự cải thiện rõ rệt về điểm số kiểm tra kiến thức và mức độ tự tin thực hành kỹ năng của các nhóm viên.
| Giai đoạn và nội dung can thiệp |
Chỉ số đo lường trước và sau thử nghiệm |
Kế hoạch 4 giai đoạn: 1. Chuẩn bị và hình thành nhóm 2. Cung cấp kiến thức và nhận diện nguy cơ 3. Rèn luyện kỹ năng thực hành và ứng phó 4. Lượng giá và kết thúc nhóm |
- Điểm kiểm tra kiến thức chung về quấy rối tình dục. - Tự đánh giá và điểm kiểm tra kỹ năng nhận diện tình huống nguy cơ. - Tự đánh giá và mức độ thực hiện kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân. - Tự đánh giá, điểm kiểm tra và mức độ thực hiện kỹ năng tự vệ. - Tự đánh giá, điểm kiểm tra và mức độ thực hiện kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp. - Tự đánh giá mức độ hiểu biết về kỹ năng tuyên truyền, hỗ trợ phòng ngừa QRTD. |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án chỉ ra 5 đóng góp mới về mặt khoa học:
- Tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về QRTD và CTXH trong phòng ngừa QRTD, phân tích các kết quả đã đạt được và xác định rõ khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD, bao gồm hệ thống khái niệm, nội dung giáo dục kỹ năng, tiến trình can thiệp 4 giai đoạn và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phản ánh thực trạng năng lực phòng ngừa QRTD của nữ sinh viên tại Đà Nẵng còn nhiều hạn chế; chỉ ra sự khác biệt giữa nhóm có và không có trải nghiệm bị quấy rối; chứng minh các hoạt động CTXH hiện nay chủ yếu mang tính cá nhân, giải quyết hậu quả mà thiếu tính phòng ngừa nhóm có hệ thống.
- Xây dựng, thử nghiệm thành công mô hình hoạt động CTXH nhóm với nội dung phù hợp trình độ nhận thức của sinh viên; chứng minh tính khả thi của tiến trình can thiệp nhóm trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng nhận diện nguy cơ, kiểm soát cảm xúc, tự vệ và tìm kiếm nguồn trợ giúp.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Công tác xã hội trong bối cảnh nghề CTXH đang phát triển tại Việt Nam, đóng góp vào mục tiêu xây dựng môi trường học đường và cộng đồng an toàn, không bạo lực giới.
Các khuyến nghị chính được đề xuất:
- Đối với cơ sở giáo dục đại học: Thành lập phòng tham vấn/công tác xã hội học đường; tích hợp giáo dục kỹ năng phòng ngừa QRTD vào các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt đầu khóa và công tác chủ nhiệm lớp; nâng cấp cơ sở vật chất, hệ thống chiếu sáng tại khuôn viên và khu vực ký túc xá.
- Đối với các cơ sở đào tạo CTXH và tổ chức xã hội: Tăng cường chuyển giao mô hình CTXH nhóm; tập huấn kỹ năng thực hành can thiệp cho nhân viên xã hội và mạng lưới sinh viên nòng cốt.
- Về chính sách và pháp luật: Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn xử lý hành vi QRTD nơi công cộng và trong trường học; tăng cường tuyên truyền xóa bỏ định kiến giới và hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án: Địa bàn nghiên cứu khảo sát và thử nghiệm chỉ tập trung tại các trường đại học trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng; mô hình can thiệp nhóm tập trung chủ yếu vào các yếu tố cá nhân (nhận thức, kỹ năng ứng phó) của nữ sinh viên mà chưa bao quát hết các yếu tố môi trường xã hội vĩ mô; chưa thực hiện theo dõi dọc sau can thiệp trong thời gian dài để đánh giá độ bền vững của kỹ năng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các tỉnh, thành phố khác và các bậc học khác; mở rộng đối tượng can thiệp sang nam sinh viên và nhóm thủ phạm quấy rối tiềm năng; phát triển các mô hình can thiệp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng dân cư.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học, Giới và Phát triển: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và quy trình thiết kế bảng hỏi, thang đo thực nghiệm.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Công tác xã hội nhóm, Công tác xã hội trường học, Công tác xã hội với phụ nữ yếu thế, Giới và Bình đẳng giới.
- Cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ Đoàn - Hội sinh viên: Tham khảo quy trình tổ chức sinh hoạt nhóm 4 giai đoạn để triển khai các chương trình rèn luyện kỹ năng sống và phòng chống bạo lực giới cho sinh viên.
- Chuyên viên hoạch định chính sách: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ việc xây dựng quy tắc ứng xử học đường và các quy định bảo vệ người học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các hình thức quấy rối tình dục nào phổ biến nhất đối với nữ sinh viên?
Theo văn bản, các hình thức quấy rối tình dục phổ biến gồm 3 nhóm: phi lời nói (nhìn chằm chằm vào cơ thể, liếc mắt đưa tình, phô bày bộ phận sinh dục, gửi hình ảnh/tin nhắn gợi dục qua mạng), lời nói (huýt sáo trêu ghẹo, bình phẩm khiếm nhã về ngoại hình, đề nghị tình dục khiếm nhã), và thể chất (cố ý đụng chạm, sờ mó vào các vùng nhạy cảm, ôm ấp hoặc tấn công tình dục). Trong đó, hành vi đụng chạm cố ý được 88,5% sinh viên trong khảo sát sơ bộ xác định là biểu hiện rõ rệt của QRTD.
2. Khung lý thuyết của luận án gồm những lý thuyết cụ thể nào?
Luận án vận dụng 5 lý thuyết khoa học xã hội: Thuyết nhu cầu của Maslow, Lý thuyết tương tác biểu trưng, Lý thuyết hệ thống, Thuyết vai trò và Lý thuyết nữ quyền.
3. Hoạt động công tác xã hội nhóm thử nghiệm được tiến hành theo quy trình nào?
Hoạt động thử nghiệm được tổ chức theo kế hoạch 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 - Chuẩn bị và hình thành nhóm; Giai đoạn 2 - Khám phá tri thức và giáo dục kỹ năng nhận diện nguy cơ; Giai đoạn 3 - Luyện tập kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự vệ và kỹ năng tìm kiếm trợ giúp; Giai đoạn 4 - Tổng kết, đánh giá lượng giá và duy trì mạng lưới hỗ trợ.
4. Năng lực phòng ngừa quấy rối tình dục của nữ sinh viên trước khi can thiệp có đặc điểm gì?
Kết quả khảo sát phản ánh hiểu biết của nữ sinh viên về QRTD còn chưa đầy đủ; kỹ năng nhận diện nguy cơ, kiểm soát cảm xúc và tự vệ còn hạn chế. Đa phần sinh viên khi gặp tình huống quấy rối đều rơi vào trạng thái bị động, e ngại, lúng túng hoặc im lặng do tâm lý sợ bị đánh giá, xấu hổ hoặc thiếu kiến thức về các kênh hỗ trợ chính thức.
5. Kết quả thử nghiệm cho thấy sự thay đổi cụ thể nào ở nhóm viên?
Sau quá trình can thiệp nhóm, điểm kiểm tra kiến thức chung về QRTD, điểm tự đánh giá và thực hành kỹ năng nhận diện nguy cơ, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng tự vệ, kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp và kỹ năng tuyên truyền hỗ trợ của các nhóm viên đều tăng lên rõ rệt so với trước tác động.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Lâm đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề ứng dụng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên đại học. Thông qua sự kết hợp giữa khung lý thuyết đa chiều, khảo sát thực trạng định lượng trên mẫu nữ sinh viên tại Đà Nẵng và thử nghiệm can thiệp theo tiến trình 4 giai đoạn, công trình đã chứng minh tính khả thi của phương pháp CTXH nhóm trong việc củng cố kiến thức và kỹ năng tự bảo vệ cho sinh viên. Đây là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị đóng góp cho ngành Công tác xã hội trường học và công tác phòng chống bạo lực giới tại Việt Nam.