Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 62 31 06 40), được hoàn thành tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Văn Đức Thanh và PGS. Nguyễn Toàn Thắng.

Văn hóa thẩm mỹ (VHTM) là lĩnh vực văn hóa đặc thù, biểu hiện trình độ phát triển cao của văn hóa, phản ánh mối quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực thông qua hoạt động thẩm mỹ. VHTM hiện diện và thẩm thấu trong mọi hoạt động đời sống xã hội, chắt lọc các giá trị từ đời sống thẩm mỹ để tác động trở lại tâm thức, thói quen của con người, hướng sự phát triển nhân cách theo chuẩn mực chân - thiện - mỹ.

Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đời sống xã hội đan xen nhiều kênh tác động phức tạp, xuất hiện những hiện tượng "lệch chuẩn" và phản giá trị thẩm mỹ len lỏi vào đời sống tinh thần của quân nhân. Tại các nhà trường quân đội (NTQĐ), học viên có tuổi đời trẻ, nhân cách đang trong quá trình định hình nên dễ bị lôi cuốn bởi thị hiếu mới lạ; một bộ phận thiếu am hiểu về VHTM và vai trò của nó. Khi tốt nghiệp ra trường, một số sĩ quan trẻ có lý tưởng thẩm mỹ còn mờ nhạt, chưa thấu hiểu hết các giá trị VHTM trong đời sống và hoạt động quân sự. Bên cạnh đó, việc tổ chức hoạt động VHTM tại một số nhà trường còn tẻ nhạt, đơn điệu, chưa phát huy hết tiềm năng sáng tạo của các chủ thể. Thực tế này đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu cơ bản, hệ thống dưới góc độ Văn hóa học để luận giải bản chất và tìm ra phương hướng giải quyết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về VHTM, trên cơ sở đó đề xuất những vấn đề cần giải quyết nhằm phát triển các yếu tố cấu thành VHTM và phát huy VHTM trong NTQĐ đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách học viên hướng tới phát triển đội ngũ sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của quân đội trong tương lai.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về VHTM và đặc trưng của VHTM trong NTQĐ.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng VHTM trong tổ chức và hoạt động ở một số NTQĐ tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay.
  3. Xác định những vấn đề đặt ra về phát triển VHTM trong NTQĐ hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là VHTM gắn với hoạt động giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) trong các NTQĐ ở Việt Nam hiện nay, được xem xét dưới góc độ Văn hóa học. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian: Luận án nghiên cứu từ điểm đến diện trong hệ thống hơn một trăm học viện, nhà trường quân đội, trong đó chọn khảo sát chuyên sâu tại 3 cơ sở đại diện cho ba khối đào tạo tiêu biểu: Học viện Chính trị (khối chính trị), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (khối quân sự) và Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (khối văn hóa nghệ thuật).
  • Về thời gian: Mốc thời gian nghiên cứu được xác định từ năm 2010 đến năm 2017 thông qua hoạt động của các chủ thể thẩm mỹ gắn với quá trình giảng dạy và học tập trong NTQĐ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành phân tích, tổng hợp hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm nội dung chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận chung về văn hóa thẩm mỹ, mỹ học và nhân cách:

  • Các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu gồm: P. Iakôpxôn với "Giáo dục thẩm mỹ cho con em trong gia đình"; A. Acnônđôp với "Cơ sở lý luận văn hoá Mác - Lênin"; tập thể tác giả với "Chủ nghĩa xã hội và nhân cách"; B. E-Ren-Grôxx với "Mỹ học - khoa học diệu kỳ"; IU. Xcacherơsiccôp với "Nguyên lý Mỹ học Mác - Lênin"; M. Ôpxiannhicôp chủ biên "Mỹ học cơ bản và nâng cao"; M. Kagan với "VHTM của con người Xô Viết"; La Quốc Kiệt với "Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng"; XiLửa BunKhăm với "Xây dựng và phát triển nền văn hóa thẩm mỹ ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế"; Son Tha Nu Thăm Ma Vông với "Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay". Các công trình này tiếp cận VHTM như một thành tố của văn hóa tinh thần, gắn hoạt động thẩm mỹ với quy luật của cái đẹp nhằm hình thành nhân cách con người hài hòa.
  • Các nghiên cứu trong nước tiêu biểu gồm: Hà Minh Đức ("C.Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ"); Đào Duy Thanh ("Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người"); Đào Đình Thưởng ("Vai trò của văn hóa đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay"); Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Quốc Tuấn - năm 2000 ("Nghệ thuật với sự phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo trong công cuộc đổi mới"); Nguyễn Văn Phúc ("Quan hệ giữa cái thẩm mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong nghệ thuật"); Như Thiết ("Đưa cái đẹp vào cuộc sống"); Nguyễn Chương Nhiếp ("Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ"); Nguyễn Thế Kiệt - năm 2014 ("Triết học thẩm mỹ và nhân cách"); Lương Quỳnh Khuê ("Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách"); Nguyễn Văn Huyên chủ biên ("Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ mới"); Nguyễn Ngọc Thu ("Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con người", "Thực tiễn thẩm mỹ - cội nguồn của văn hoá thẩm mỹ"); Lê Quang Thiêm - năm 1998 ("Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa"); Trần Ngọc Tăng, Vĩnh Quang Lê, Trần Quốc Bảng, Lương Thanh Tân (về giáo dục thẩm mỹ và thiết chế văn hóa); Cù Huy Chử, Nguyễn Chương Nhiếp và cộng sự, Nguyễn Trung Thu (về tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn học nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ); Đỗ Huy, Vũ Thị Kim Dung, Lê Thị Thùy Dung, Trần Độ, Huỳnh Khái Vinh, Phạm Minh Hạc, Lương Gia Ban, Phạm Duy Đức, Nguyễn Toàn Thắng, Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Bắc.

Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về văn hóa thẩm mỹ và văn hóa quân sự trong quân đội:

  • Tài liệu quốc tế: N. Khsenco trong "Bản chất cái đẹp" phân tích đặc trưng cái đẹp trong lao động quân sự, nghi thức diễu binh, hành quân, nếp sống chính quy; A. Xaphrônôp trong "Mỹ học Mác - Lênin với việc giáo dục bộ đội" luận giải hoạt động quân sự như một phương diện biểu hiện đặc biệt của cái đẹp và yêu cầu sáng tạo của người chỉ huy.
  • Tài liệu trong nước: Các công trình của Tổng cục Chính trị gồm "Nuôi dưỡng giá trị văn hoá trong nhân cách người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam", "Một số hiểu biết cơ bản về Văn học - Nghệ thuật và Giáo dục thẩm mỹ", "Nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay", "Đạo đức học quân sự", "Giáo trình Văn hoá học"; Nguyễn Xuân Trường ("Phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay"); Đinh Xuân Dũng ("Văn hóa học, văn hóa, tiếp nhận và suy nghĩ"); Nguyễn Đức Trịnh - năm 2008 ("Đổi mới nội dung phương thức hoạt động văn hóa nghệ thuật trong quân đội góp phần xây dựng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới"); Lê Văn Quang, Văn Đức Thanh ("Văn hoá quân sự Việt Nam"); Dương Quang Hiển ("Phát huy hệ giá trị văn hóa quân sự Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay"); Văn Đức Thanh ("Về xây dựng môi trường văn hoá cơ sở"); Đỗ Văn Ngoan ("Quan hệ thống nhất - đa dạng trong phát triển môi trường văn hóa quân sự ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay"); Hoàng Đình Chiều ("Nhập thân văn hóa trong phát triển nhân cách Bộ đội Cụ Hồ của thanh niên quân đội hiện nay"); Nguyễn Chí Linh ("Phát triển ý thức thẩm mỹ ở học viên sĩ quan chính trị cấp phân đội trong quân đội ta hiện nay"); Lưu Ngọc Khải, Nguyễn Văn Tùng ("Thanh niên quân đội với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc"); Quang Hoài ("Văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong Bộ đội Cụ Hồ"); Nguyễn Mạnh Hưởng ("Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội nhân dân và việc vận dụng hiện nay"); Đặng Mỹ Hạnh ("Văn hóa Nghệ thuật trong quân đội hiện nay").

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định giải quyết gồm:

  1. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận VHTM dưới góc nhìn của mỹ học, triết học hoặc nghiên cứu hoạt động văn hóa nghệ thuật thuần túy, chưa có công trình nào nghiên cứu có tính hệ thống, chuyên biệt và sâu sắc về VHTM trong NTQĐ dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
  2. Chưa đặt VHTM trong quy luật phát triển chung của văn hóa để xây dựng hệ thống cấu trúc, khái quát đặc điểm và đánh giá vai trò trong mối quan hệ tổng thể của môi trường sư phạm quân sự.
  3. Chưa có công trình chuyên biệt nào đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành và tác động tổng thể của VHTM đối với tổ chức, hoạt động giáo dục và quá trình hình thành nhân cách của học viên tại các NTQĐ cụ thể ở Việt Nam.
  4. Chưa đề xuất được hệ thống giải pháp đồng bộ trên cả hai phương diện: phát triển các yếu tố cấu thành và phát huy vai trò của VHTM trong NTQĐ nhằm nâng cao chất lượng GD-ĐT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và con người, cùng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị về xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng môi trường văn hóa trong quân đội.

Về khái niệm và khung phân tích:

  • Thuật ngữ "văn hóa thẩm mỹ" được Friedrich Schiller khởi xướng trong tác phẩm "On the Aesthetic Education of Man" (1793-1795, bức thư thứ 23), gắn với nguyên tắc thống nhất giữa các giá trị chân - thiện - mỹ. Khái niệm này tiếp tục được Gyorgy Lukács phát triển năm 1910-1913 và được các học giả Xô Viết (M. Kagan, A. Acnônđôp, IU. Xcacherơsiccôp) phổ biến từ thập niên 1960.
  • Dưới góc độ Văn hóa học, luận án tiếp cận VHTM trên hai bình diện: VHTM với tính cách là một bộ phận của văn hóa và VHTM với tính cách là một thực thể của đời sống thẩm mỹ.
  • Khung cấu trúc VHTM trong NTQĐ được xác định bao gồm 5 yếu tố cấu thành cơ bản: chủ thể thẩm mỹ (cán bộ, giảng viên, học viên); hệ giá trị thẩm mỹ sư phạm quân sự; hoạt động VHTM (trực tiếp và gián tiếp); hệ thống thiết chế VHTM; môi trường cảnh quan sư phạm quân sự.

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

Phương pháp nghiên cứu Mục đích và phương thức thực hiện trong luận án
Phân tích và tổng hợp Phân tích các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo tổng kết GD-ĐT và các kết quả nghiên cứu về VHTM từ năm 2010 đến 2017 để khái quát các luận điểm khoa học.
Lịch sử - logic Phân tích tiến trình vận động của VHTM trong NTQĐ gắn với đặc điểm phát triển của môi trường sư phạm quân sự qua các giai đoạn.
Hệ thống - cấu trúc Xem xét VHTM như một chỉnh thể gồm nhiều thành tố vận động theo quy luật của cái đẹp trong mối quan hệ với hoạt động GD-ĐT.
Chuyên gia Tham khảo ý kiến đánh giá của các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực văn hóa học, mỹ học và giáo dục quân sự.
Nghiên cứu trường hợp (Case study) Khảo sát thực địa điển hình tại 3 cơ sở: Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1 và Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.
Điều tra xã hội học Thiết kế và phát phiếu hỏi anket thu thập dữ liệu định lượng từ cán bộ, giảng viên, học viên tại các nhà trường được khảo sát.
Phỏng vấn sâu Trực tiếp phỏng vấn cán bộ quản lý, giảng viên và học viên nhằm làm rõ nguyên nhân, đánh giá thuận lợi và khó khăn của các thiết chế VHTM.
Điền dã thực địa Sử dụng hình thức điền dã tham dự và điền dã quan sát, ghi âm, ghi hình đời sống sinh hoạt, huấn luyện, học tập và cảnh quan thực tế tại các nhà trường.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của công trình bao gồm hệ thống văn bản chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị; số liệu báo cáo tổng kết công tác đảng, công tác chính trị, phong trào xây dựng môi trường văn hóa tại các nhà trường; dữ liệu khảo sát thực tế bằng phiếu anket, biên bản phỏng vấn sâu và tư liệu điền dã do tác giả trực tiếp thu thập từ năm 2010 đến năm 2017.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài thành hai hướng chính: các công trình về văn hóa thẩm mỹ nói chung và các công trình về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội.

Tác giả chỉ ra rằng giới nghiên cứu đã đạt được sự thống nhất khi coi VHTM là sản phẩm do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn, hiện diện trong đời sống xã hội và tác động đến con người thông qua cái đẹp. Tuy nhiên, các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở góc độ mỹ học thuần túy hoặc tiếp cận dưới khía cạnh hoạt động văn hóa nghệ thuật đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu VHTM trong NTQĐ một cách toàn diện, có hệ thống dưới lăng kính Văn hóa học. Từ việc chỉ rõ các điểm trống về lý luận và thực tiễn, tác giả khẳng định tính độc lập và sự cần thiết của đề tài luận án.

Chương 2: Lý luận về văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội ở Việt Nam

Chương 2 tập trung xác lập cơ sở lý thuyết về VHTM và làm rõ các đặc trưng cơ bản của VHTM trong NTQĐ:

  • Về bản chất: VHTM là sự biểu hiện đặc trưng của phương thức tồn tại người, phản ánh quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực, là sự thống nhất giữa giá trị thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo thẩm mỹ.
  • Về đặc trưng hệ giá trị thẩm mỹ trong NTQĐ:
    • Các giá trị VHTM quân sự chiếm dung lượng lớn và giữ vai trò tiết chế các giá trị VHTM của cộng đồng dân tộc. Khi các giá trị thẩm mỹ chung hòa nhập vào môi trường quân sự, chúng được chọn lọc, điều chỉnh phù hợp với kỷ luật và nếp sống chính quy của quân đội.
    • Các giá trị VHTM được ưu tiên lựa chọn nhằm bồi dưỡng năng lực, cảm xúc và phát triển nhân cách quân nhân, gắn kết giữa lý trí và tình cảm, giữa nhiệm vụ quân sự với các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ.
  • Về đặc trưng hệ thống hoạt động VHTM: Thể hiện tính đồng bộ giữa môi trường VHTM và môi trường GD-ĐT quân sự trên 3 phương diện:
    1. Đồng bộ giữa môi trường VHTM và hệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc về tôn sư trọng đạo, học theo cái đẹp và học thế nào cho đẹp.
    2. Đồng bộ trong việc cùng hướng tới phục vụ sự nghiệp xây dựng quân đội về chính trị, phát triển bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
    3. Đồng bộ, bổ sung, tương tác cùng phát triển giữa môi trường VHTM và chương trình GD-ĐT, tạo động lực biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của học viên.
  • Về đặc trưng hệ thống thiết chế VHTM: Thiết chế VHTM trong NTQĐ mang đặc tính nghiêm cách và mực thước trong quá trình truyền dẫn giá trị. Sự nghiêm cách thể hiện ở việc chọn lọc kỹ lưỡng nội dung truyền dẫn theo con đường giáo dục và "văn hóa hóa", đồng thời xác lập cơ chế truyền dẫn chặt chẽ, chuẩn mực dựa trên nền tảng kỷ luật quân đội và đạo đức sư phạm.

Chương 3: Thực trạng văn hóa thẩm mỹ và phát huy văn hoá thẩm mỹ trong nhà trường quân đội ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại 3 cơ sở đào tạo tiêu biểu (Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội) giai đoạn 2010 - 2017:

  • Khái quát khách thể và phương thức khảo sát: Phân tích cơ cấu đối tượng điều tra gồm cán bộ quản lý, giảng viên và học viên của ba khối đào tạo.
  • Đánh giá thực trạng 5 yếu tố cấu thành VHTM trong NTQĐ:
    1. Chủ thể thẩm mỹ: Trình độ nhận thức, thị hiếu và nhu cầu thẩm mỹ của cán bộ, giảng viên và học viên có bước phát triển, song vẫn còn một bộ phận học viên trẻ nhận thức chưa đầy đủ về VHTM quân sự.
    2. Hệ giá trị VHTM: Hệ giá trị chuẩn mực "Bộ đội Cụ Hồ", truyền thống tôn sư trọng đạo được duy trì vững chắc, nhưng chịu sự tác động đan xen của các xu hướng giá trị xã hội mới.
    3. Hoạt động VHTM: Các hoạt động trực tiếp (văn nghệ, diễn đàn, hội thao) và gián tiếp (huấn luyện, rèn luyện điều lệnh) được duy trì nền nếp; tuy nhiên một số hoạt động còn mang tính hình thức, hành chính hóa, nội dung chưa phong phú.
    4. Hệ thống thiết chế VHTM: Hệ thống phòng truyền thống, thư viện, câu lạc bộ, hệ thống truyền thanh nội bộ được đầu tư nâng cấp nhưng hiệu quả khai thác ở một số nơi chưa đồng đều.
    5. Môi trường cảnh quan: Không gian doanh trại, giảng đường được quy hoạch chính quy, xanh - sạch - đẹp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sư phạm.
  • Đánh giá tác động tổng thể của VHTM: VHTM đã góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, định hình lối sống văn hóa, nâng cao chất lượng dạy và học; đồng thời chỉ ra các hạn chế và phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến những tồn tại trong thực tiễn.

Chương 4: Những vấn đề đặt ra đối với phát triển văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất hai nhóm phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn:

  • Phát triển những yếu tố cấu thành của VHTM trong NTQĐ:
    • Nâng cao trình độ nhận thức, năng lực cảm thụ và thị hiếu thẩm mỹ cho các chủ thể (đặc biệt là đội ngũ học viên và giảng viên trẻ).
    • Chuẩn hóa và hoàn thiện hệ giá trị thẩm mỹ sư phạm quân sự phù hợp với yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới.
    • Đổi mới nội dung, hình thức và phương thức tổ chức các hoạt động VHTM, khắc phục triệt để tình trạng đơn điệu, xơ cứng.
    • Củng cố, hiện đại hóa hệ thống thiết chế VHTM và quy hoạch cảnh quan môi trường sư phạm quân sự khang trang, chuẩn mực.
  • Phát huy văn hóa thẩm mỹ trong NTQĐ:
    • Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp đối với công tác xây dựng đời sống VHTM.
    • Tích hợp các giá trị VHTM vào toàn bộ quy trình GD-ĐT, gắn kết chặt chẽ giữa "dạy chữ" và "rèn người".
    • Kết hợp hài hòa giữa xây dựng môi trường văn hóa với việc duy trì kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy quân đội.
    • Khơi dậy tính chủ động, tự giác của học viên trong việc tiếp nhận giá trị và tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách thẩm mỹ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án công bố các đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về VHTM trong NTQĐ dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
  • Xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về VHTM trong môi trường sư phạm quân sự; phân tích rõ cấu trúc gồm 5 yếu tố cấu thành và cơ chế tương tác giữa VHTM với hoạt động GD-ĐT.
  • Luận giải sâu sắc các đặc trưng đặc thù của VHTM trong NTQĐ: tính dung hợp và tiết chế giá trị thẩm mỹ, tính đồng bộ giữa môi trường VHTM với môi trường GD-ĐT và tính nghiêm cách trong truyền dẫn giá trị của hệ thống thiết chế VHTM.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn tư liệu và luận cứ khoa học thực chứng về thực trạng VHTM tại 3 cơ sở đào tạo quân sự đại diện cho ba khối chuyên ngành (chính trị, quân sự, văn hóa nghệ thuật) từ năm 2010 đến 2017.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp toàn diện, có tính khả thi nhằm phát triển các yếu tố cấu thành và phát huy vai trò của VHTM trong NTQĐ, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu nâng cao chất lượng GD-ĐT và xây dựng nhân cách người sĩ quan quân đội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi khảo sát: Do hệ thống NTQĐ có quy mô lớn với hơn một trăm học viện, nhà trường đóng quân trên cả nước, luận án chỉ giới hạn khảo sát chuyên sâu tại 3 trường đại diện (Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội).
  • Về phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát và các tư liệu điền dã phản ánh thực trạng đời sống VHTM trong khung thời gian từ năm 2010 đến năm 2017.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và khảo sát thực địa sang các khối trường chuyên ngành kỹ thuật quân sự, hậu cần, quân y, hải quân, phòng không - không quân để so sánh sự khác biệt về đặc thù VHTM giữa các quân binh chủng.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của bối cảnh truyền thông số, mạng xã hội và các hình thức giải trí hiện đại đối với thị hiếu thẩm mỹ của học viên quân đội trong giai đoạn mới.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn hóa học, Mỹ học, Giáo dục học quân sự và Triết học: Tài liệu cung cấp khung lý luận, hệ thống khái niệm và phương pháp tiếp cận văn hóa học đối với một lĩnh vực xã hội đặc thù.
  • Cán bộ quản lý, cơ quan chỉ đạo GD-ĐT trong quân đội: Tài liệu tham khảo để hoạch định chính sách xây dựng môi trường văn hóa học đường quân sự và đổi mới nội dung giáo dục thẩm mỹ cho học viên.
  • Cán bộ chính trị, cán bộ văn hóa tại các đơn vị cơ sở và nhà trường quân đội: Cung cấp giải pháp thực tế để tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, rèn luyện nếp sống chính quy và xây dựng nhân cách quân nhân.

Các phần nội dung có giá trị tham khảo nổi bật gồm:

  • Chương 2: Khung phân tích lý luận về cấu trúc và các đặc trưng VHTM trong môi trường sư phạm quân sự.
  • Chương 3: Phương pháp thiết kế công cụ khảo sát thực địa kết hợp anket, phỏng vấn sâu và điền dã trong môi trường quân đội.
  • Chương 4: Hệ thống giải pháp phát triển các yếu tố cấu thành và cơ chế phát huy VHTM trong quy trình GD-ĐT.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn khảo sát thực tế tại những cơ sở đào tạo nào và căn cứ vào tiêu chí gì?
Luận án lựa chọn khảo sát thực tế tại 3 nhà trường đại diện cho ba khối đào tạo trọng yếu của quân đội: Học viện Chính trị (đại diện cho khối đào tạo cán bộ chính trị), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (đại diện cho khối đào tạo sĩ quan chỉ huy - quân sự) và Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội (đại diện cho khối đào tạo chuyên môn văn hóa, nghệ thuật). Tiêu chí lựa chọn dựa trên tính chất đại diện ngành nghề nhằm đảm bảo tính toàn diện từ điểm đến diện của hệ thống NTQĐ.

2. Thuật ngữ "văn hóa thẩm mỹ" có nguồn gốc từ đâu theo phân tích của tác giả?
Theo luận án, khái niệm "Văn hóa thẩm mỹ" xuất hiện lần đầu tiên vào giai đoạn 1793-1795 do triết gia người Đức Friedrich Schiller đưa ra trong bức thư thứ 23 của tác phẩm "On the Aesthetic Education of Man". Tiếp đó, khái niệm được Gyorgy Lukács tái xuất bản trong tập luận văn cùng tên năm 1910-1913 và được các học giả Xô Viết nghiên cứu phổ biến từ thập niên 1960.

3. Văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội có những đặc trưng tiêu biểu nào về mặt giá trị?
Đặc trưng giá trị của VHTM trong NTQĐ thể hiện ở hai khía cạnh chính: thứ nhất, các giá trị VHTM quân sự chiếm dung lượng lớn và giữ vai trò tiết chế các giá trị VHTM chung của xã hội khi thâm nhập vào nhà trường; thứ hai, các giá trị VHTM được ưu tiên lựa chọn để bồi dưỡng năng lực, cảm xúc thẩm mỹ và hoàn thiện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực "Bộ đội Cụ Hồ".

4. Tính đồng bộ trong hoạt động văn hóa thẩm mỹ tại nhà trường quân đội thể hiện ở các mặt nào?
Tính đồng bộ thể hiện ở sự phối hợp nhịp nhàng giữa môi trường VHTM và môi trường GD-ĐT quân sự trên 3 mặt: đồng bộ với hệ giá trị truyền thống dân tộc về tôn sư trọng đạo và học tập suốt đời; đồng bộ trong việc hướng tới xây dựng quân đội về chính trị và phát triển bản chất cách mạng; đồng bộ, tương tác cùng phát triển giữa môi trường VHTM và chương trình GD-ĐT.

5. Tính nghiêm cách trong truyền dẫn giá trị của thiết chế văn hóa thẩm mỹ được hiểu như thế nào?
Tính nghiêm cách thể hiện ở việc chọn lọc kỹ lưỡng nội dung truyền dẫn theo con đường giáo dục và văn hóa hóa, đồng thời thiết lập phương thức truyền dẫn chặt chẽ, chuẩn mực dựa trên nền tảng kỷ luật quân đội và đạo đức sư phạm nhằm điều chỉnh hành vi của quân nhân theo chuẩn mực cái đẹp.


Kết luận

Luận án "Văn hóa thẩm mỹ trong nhà trường quân đội hiện nay" của tác giả Phạm Văn Xây là công trình nghiên cứu hệ thống về VHTM trong môi trường sư phạm quân sự dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học. Luận án đã xây dựng khung lý luận về bản chất, cấu trúc và đặc trưng của VHTM quân sự, đồng thời phản ánh bức tranh thực trạng tại ba cơ sở đào tạo tiêu biểu giai đoạn 2010 - 2017. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp phát triển các yếu tố cấu thành và phát huy vai trò của VHTM, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho đội ngũ sĩ quan quân đội.