Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, giới nghiên cứu trong nước và quốc tế đã có những công trình nghiên cứu về VHTM, VHTM trong nhà trường nói chung và VHTM trong NTQĐ nói riêng. Có thể nhận thấy một số hướng nghiên cứu như sau: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến văn hoá thẩm mỹ Từ nhiều góc độ tiếp cận và luận giải khác nhau về văn hóa và VHTM, một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: "Giáo dục thẩm mỹ cho con em trong gia đình" của P.
Iakôpxôn [59]; "Cơ sở lý luận văn hoá Mác - Lênin" do A. Acnônđôp [1]; "Chủ nghĩa xã hội và nhân cách" của tập thể tác giả [97]; "Mỹ học - khoa học diệu kỳ" của B. E-Ren-Grôxx [36]… đều coi văn hoá như một phương thức đánh dấu trình độ phát triển của con người và khẳng định: "VHTM là một thành tố nằm trong hệ thống văn hóa tinh thần" [1, tr. E-Ren-Grôxx cho rằng trong đời sống "cái đẹp luôn gắn liền với sự khẳng định cuộc sống" [36, tr.58], nên khi mỗi con người cảm nhận, lĩnh hội và đánh giá cái đẹp phụ thuộc rất nhiều vào "trình độ văn hóa và mức độ phát triển của họ" [36, tr.
Vì vậy, GD-ĐT trong nhà trường cần coi trọng VHTM để giúp người học phát triển nhu cầu thẩm mỹ, bộc lộ khuynh hướng nghệ thuật và biết xây dựng cái đẹp cho mình. Do đó, "việc khêu gợi sự thụ cảm thẩm mỹ ở các em là công tác đặc biệt của gia đình và nhà trường" [90, tr.12], giúp cho các em phát triển khả năng cảm thụ, hiểu về cái đẹp trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và xã hội. Các công trình "Nguyên lý Mỹ học Mác - Lênin" của hai tác giả IU. Xcacherơsiccôp [71]; "Mỹ học cơ bản và nâng cao" của M.
Ôpxiannhicôp chủ biên [87]. là sản phẩm nghiên cứu mang tính lý luận sâu sắc, khái quát khá đầy đủ những vấn đề cơ bản về VHTM và các loại hình nghệ thuật cũng như nêu rõ vị trí, vai trò của của nghệ thuật trong đời sống xã hội. Các học giả nêu rõ: "Hoạt động thẩm mỹ (là sáng tạo "theo qui luật của cái đẹp" cũng như cảm thụ cái đẹp) đưa lại cho con người niềm vui tinh thần cao quí… với ý nghĩa xã hội của nó, hoạt động thẩm mỹ là phương tiện để đạt được mục đích nhất định" [71, tr. Cái đẹp được 7 ẩn chứa trong mọi hoạt động của con người, trong mối quan hệ, giao tiếp xã hội, trong lao động, sinh hoạt và trong nghệ thuật.
Tuy nhiên, "cái đẹp luôn đòi hỏi sự hiểu biết, đòi hỏi phải có tri thức" [71, tr.340], khi con người muốn cảm thụ được cái đẹp nhất thiết phải hiểu được bản chất của các sự vật hiện tượng trong hiện thực. Do đó, việc "phát triển văn hóa thẩm mỹ phải gắn liền với các nhiệm vụ giáo dục con người mới" [71, tr.17] và phải làm cho "văn hóa thẩm mỹ thâm nhập dần dần vào tất cả mọi lĩnh vực sống và hoạt động của con người… đồng thời, vạch mặt tất cả những thế lực phản thẩm mỹ" [87, tr.687], trở thành sức mạnh để cổ vũ cho lao động, tô điểm sinh hoạt và làm cao đẹp con người. Nhà nghiên cứu M. Ôpxiannhicôp cho rằng: "Nếu giải quyết được những nhiệm vụ đó, nghĩa là đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển VHTM, nghệ thuật, cho sự hình thành con người hài hòa và toàn diện của xã hội" [87, tr.
Con người luôn có nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo cái đẹp, khi cái đẹp tác động vào con người sẽ làm hài hòa những tình cảm, nguyện vọng, khao khát từ tư tưởng của họ và hình thành lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp. Khi nghiên cứu về "Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng", tác giả La Quốc Kiệt [65] một nhà nghiên cứu Trung Quốc, đã đưa ra quan điểm về giá trị, luận chứng bản chất và sự thống nhất giữa giá trị bản thân và giá trị xã hội trong nhân cách; đưa ra nội dung, yêu cầu và con đường bồi dưỡng, xây dựng giá trị nhân cách. Đặc biệt, ông đã đưa ra khái niệm "Tố chất văn hoá" và coi tố chất văn hoá là nền tảng, cốt lõi có ảnh hưởng rất lớn và thẩm thấu mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển các tố chất khác của con người. Do đó, việc tu dưỡng tố chất văn hoá sẽ là điều kiện tiên quyết nhằm hoàn thiện nhân cách và năng lực thẩm mỹ ở mỗi cá nhân.
Tuy nhiên, trong tác phẩm này VHTM được tác giả hiểu theo nghĩa hẹp là "trình độ học vấn". Do đó, nó chỉ được đặt bên cạnh các tố chất khác như: chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực thẩm mỹ của mỗi cá nhân [65, tr. Một số công trình bàn về vấn đề tầm quan trọng của VHTM như: "Xây dựng và phát triển nền văn hóa thẩm mỹ ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế" của XiLửa BunKhăm [127]; "Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay" của Son Tha Nu Thăm Ma Vông [93]… Trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Lào, vai trò của văn hóa nói chung, VHNT nói riêng đang từng bước được khẳng định như là một nhân tố bên trong quá trình phát triển. Tác giả Son Tha Nu Thăm Ma Vông đã nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về văn hóa, VHTM 8 và coi "văn hóa nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của VHTM, nằm trong văn hóa tinh thần.
Trung tâm của văn hóa nghệ thuật là sự sáng tạo, lưu giữ và phát huy các giá trị nghệ thuật trong đời sống xã hội" [93, tr. Do đó, cần xây dựng một "nền văn hóa thẩm mỹ là cội nguồn của sức mạnh vật chất và tinh thần, là chỗ dựa, là điểm xuất phát cho nhân dân các dân tộc" [127, tr. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ vai trò và tác động của VHTM đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, tác giả XiLưa BunKhăm đã đề xuất các giải pháp về phương diện lãnh đạo và quản lý để phát huy sức mạnh của VHTM và VHNT, làm cho các giá trị VHTM "thẩm thấu vào toàn bộ các hoạt động xã hội, vừa đóng vai trò định hướng vừa là động lực và hệ điều tiết quá trình phát triển kinh tế - xã hội [127, tr. Các công trình nghiên cứu ở trong nước như: "C.Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ" của Hà Minh Đức [34]; "Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người" của Đào Duy Thanh [98]; "Vai trò của văn hóa đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay" của Đào Đình Thưởng [108]; "Nghệ thuật với sự phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo trong công cuộc đổi mới" của tác giả Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Quốc Tuấn - 2000 [54]… đã bàn sâu về vai trò của văn hóa nói chung, VHNT nói riêng như là một nhân tố bên trong của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nhân cách của mỗi người.
Do đó, cần nhận thức đầy đủ về vai trò và tác động của văn hóa và VHNT tới con người, xã hội trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của VHNT trong đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần và nâng cao năng lực thẩm mỹ của nhân dân. Muốn vậy, trước tiên "nghệ thuật phải có sức mạnh trong việc phát triển các thuộc tính trong tính cách và khí chất của người lãnh đạo theo yêu cầu của công cuộc đổi mới" [54, tr.139], mặt khác, nghệ thuật phải góp phần làm cho "công nhân và nông dân xứng đáng được hưởng những giá trị tốt đẹp nhất của nền văn hóa mới" [34, tr. Điều đó cho thấy, "nghệ thuật chân chính khi tác động đến thế giới tinh thần của con người, nó không chỉ phát triển thị hiếu, năng lực cảm thụ, cảm xúc thẩm mỹ mà còn có ý nghĩa đánh giá cái đẹp" [98, tr. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, hưởng lạc, khát vọng tiền tài, quyền lực đang len lỏi vào đời sống.
Do đó, cần phải định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho các hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật, cũng như cần nâng cao tính chiến đấu trong sáng tác, lý luận phê bình, để phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). 9 Một số công trình: "Quan hệ giữa cái thẩm mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong nghệ thuật" của tác giả Nguyễn Văn Phúc [90]; "Đưa cái đẹp vào cuộc sống" của Như Thiết [103]; "Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ" của Nguyễn Chương Nhiếp [84], "Triết học thẩm mỹ và nhân cách" của Nguyễn Thế Kiệt - 2014 [66]… đã tiếp cận VHTM như là cái được sinh ra để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ cái đẹp, đem lại cho con người những khoái cảm tinh thần, sự phong phú nội tâm, thức tỉnh khả năng cảm thụ và sáng tạo thẩm mỹ. Theo đó, việc đưa cái đẹp vào các lĩnh vực của cuộc sống (lao động, chiến đấu, học tập, quan hệ giao tiếp, nếp sống, lối sống, trang phục, nghệ thuật…) là một đòi hỏi tất yếu: "Bởi cái tốt và cái đẹp cùng ra đời từ lao động. Từ lao động cho mình và cho xã hội, lương tâm, vinh dự, trách nhiệm sẽ xuất hiện" [66, tr.
Một mặt, nó đáp ứng những nhu cầu về văn hóa tinh thần của con người, mặt khác nó vạch trần cái xấu, cái lạc hậu. Để thực hiện được nhiệm vụ "đưa cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày đòi hỏi chủ thể thẩm mỹ phải có ý thức, năng lực thẩm mỹ và phát huy tính chủ động, tích cực của mình" [103, tr. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi mà "các phản giá trị đang làm méo mó thị hiếu của một bộ phận không nhỏ công chúng" [90, tr.117], cho nên cần phải sử dụng VHTM như là phương tiện trong việc giáo dục đạo đức và xây dựng nhân cách con người.