Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Lý luận chung về văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản về văn hóa Văn hóa là khái niệm xuất hiện từ lâu trong lịch sử; tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Trong tiếng Việt, văn hóa là danh từ có nội hàm ngữ nghĩa khá phong phú và phức tạp.
Có thể hiểu văn hóa như một hoạt động sáng tạo của con người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại cũng có thể hiểu văn hóa như trình độ học vấn của con người. Ngược dòng lịch sử, ở phương Tây, từ văn hóa xuất hiện sớm trong đời sống ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: Văn hóa là một từ có nguồn gốc Latinh: Colere, sau trở thành Cultura nghĩa là cày cấy, gieo trồng. Về sau nghĩa được mở rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ.
Vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, nhà hùng biện thời La Mã, Cicéron từng có câu nói nổi tiếng: Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần ( Filosofia cultura animiest). Ở Trung Quốc, từ “văn hóa” đã xuất hiện đầu tiên trong Kinh Dịch, quẻ Bí viết: “Quan hệ thiên văn dĩ sát thời biến, quan hệ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”. Đặc biệt trong đời sống ngôn ngữ ở thời Tây Hán ( 206 trước Công nguyên-25 năm sau công nguyên) từ “văn hóa” đã được phổ biến. Lưu Hướng viết trong sách “Thuyết uyển” bài “Chỉ vũ”: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực.
Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau sẽ chinh phạt”. Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu Hướng, từ văn hóa được hiểu như một cách giáo hóa đối lập với vũ lực, văn hóa gần nghĩa với giáo hóa. Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông như vậy, nhưng phải đến thế kỷ XVIII, từ văn hóa mới được đưa vào khoa 11 học, sử dụng như thuật ngữ khoa học. Năm 1774, từ này mới được xuất hiện trong thư tịch và ghi vào từ điển năm 1783 ở Đức.
Người đầu tiên sử dụng từ văn hóa trong khoa học là Pufendorf, người Đức, ông cho rằng văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên. Sau ông, nhà triết học Herder (1744-1803) cho rằng: văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người. Theo ông, lần thứ nhất, con người xuất hiện với tư cách là một thực thể sinh vật tự nhiên; lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa, theo nghĩa toàn vẹn của từ này. Sau đó, ông Adelung, người Đức, người đầu tiên đề quan niệm lịch sử phát triển của văn hóa như lịch sử phát triển xã hội, đối lập với lịch sử phát triển các triều đại.
Trong khi đó, nhà triết học Kant lại cho rằng văn hóa là sự phát triển, bộc lộ các khả năng, năng lực và sức mạnh của con người. Cùng với các nhà triết học người Đức, nhà triết học Vico người Ý cho rằng, văn hóa là một từ chỉ phức thể gồm: khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị.Tylor công bố công trình “Văn hóa nguyên thủy” ở Luân Đôn. Lúc này ngành khoa học văn hóa mới chính thức được khẳng định bởi E.Tylor và ông cũng chính là người đưa ra định nghĩa: Văn hóa là một phức thể bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng, thói quen mà con người với tư cách là một thành viên xã hội đạt được. Từ đây, khái niệm văn hóa được nhiều người đề cập.
Năm 1952, trong công trình “Văn hóa: tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa” (Culture: a critical review of concepts and difintions), hai nhà khoa học Mỹ là A.Kluckhohn đã thống kê và phân tích tới 164 định nghĩa về văn hóa, trong đó có 7 định nghĩa ra đời từ 1871 đến 1919 và 157 định nghĩa ra đời từ năm 1920 đến 1950. Năm 1967, nhà văn hóa học người Pháp, Abraham Moles lại cho biết có đến 250 định nghĩa. Vào năm 1982, tại Mexico, trong Hội nghị thế giới về văn hóa, Tổ chức văn thế giới (UNESCO) đã đưa ra khái niệm về văn hóa theo nghĩa rộng: văn hóa là toàn bộ các thuộc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc 12 trưng cho một xã hội, chứ không phải chỉ bao gồm có nghệ thuật. Văn hóa còn bao gồm lối sống, các quyền cơ bản của con người, các giá trị tín ngưỡng, truyền thống của các dân tộc.
Năm 1994, trong công trình “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, Phan Ngọc viết: “Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau”. Ở Việt Nam, từ thời Lý, người Việt đã tự hào nước mình có một “văn hiến chi bang”. Đến đời Lê, Nguyễn Trãi viết: Duy ngã Đại Việt chi quốc, Thực vi văn hiến chi bang. Nghĩa là: Như nước Đại Việt ta, Thực là một nước văn hiến.
Ở đây, Nguyễn Trãi đặt từ văn hiến bên cạnh những từ khác như sơn xuyên (núi sông), phong tục, lịch sử, hào kiệt. Nói khác đi, nội hàm của từ văn hiến chính là một khía cạnh trong nội hàm của từ văn hóa. Kế thừa tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử. cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [57, tr.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng đã đưa ra nội hàm của khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội.trong đó trọng tâm là tư tưởng, đạo đức, lối sống và dời sống văn hóa” [9, tr. 13 Như vậy, khi tiếp cận văn hóa với tư cách là một khái niệm khoa học-triết học đã thể hiện những nội dung cơ bản: Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ hoạt động(gồm cả sản xuất, quan hệ, giao tiếp.) của con người (cá nhân, cộng đồng) trong quan hệ với tự nhiên, xã hội và bản thân; đó là hoạt động tạo ra sản phẩm, bảo vệ và trao đổi sản phẩm, mà trọng tâm là hoạt động sản xuất xã hội. Văn hóa là sự sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm thì nên không thuộc về khái niệm văn hóa. Từ đó văn hóa là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên.
Văn hóa xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa cũng là kết quả của sự thích nghi ấy. Thứ hai, sự thích nghi trên là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên không phải là sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với giá trị chân - thiện - mỹ. Vì văn hóa là một hệ thống giá trị, cả tinh thần và vật chất, cả vật thể và phi vật thể. Nhưng trước hết là giá trị tinh thần, cơ bản là các giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ.
Do vậy, ta hay nói văn hóa là chân - thiện - mỹ. Các giá trị đó dần dần được tích lũy lại làm nên môi trường văn hóa, cụ thể là thực hiện dân sinh, dân chủ, dân trí. Từ môi trường văn hóa này, mỗi thành viên của xã hội, kể từ khi ra đời, lớn lên.sẽ nhận được sự giáo dục, đào tạo, rèn luyện để thực sự trở thành một con người và sáng tạo những giá trị-văn hóa mới. Đây là những thành tố cơ bản của giá trị văn hóa và giá trị chân - thiện - mỹ là hạt nhân trọng tâm.
Thứ ba, văn hóa bao gồm cả những sản phẩm tinh thần và vật chất, chứ không riêng tinh thần mà thôi. Và như thế văn hóa càng không đơn giản là thượng tầng kiến trúc xã hội, nó có gốc rễ trong kinh tế, là hạ tầng của đời sống tinh thần xã hội. Văn hóa là sáng tạo và phát triển nhưng trước hết là phát triển năng lực con người. Thứ tư, văn hóa là phương thức tồn tại, phương thức sinh sống và phát triển của con người và cộng đồng.
Phương thức này là cách thức để hoạt động, cách thức 14 làm ra, bảo tồn các giá trị văn hóa trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của loài người. Văn hóa có nhiều khía cạnh, biểu hiện nhưng đều không nằm ngoài những nội dung trên, tạo thành chỉnh thể cơ bản của văn hóa như một bản thể người sáng tạo, sinh động, vừa bất biến và dĩ biến trong quá trình phát triển của con người và xã hội loài người. Các chức năng của văn hóa Ngày nay văn hóa trở thành đối tượng của khoa học, một ngành khoa học khá lớn; đồng thời văn hóa luôn luôn gắn chặt với các khái niệm chân - thiện - mỹ nên văn hóa được nhận thức đúng đắn về các chức năng cơ bản của nó trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội như sau: Chức năng nhận thức, được xem là điều kiện thiết yếu và yếu tố cấu thành của bất cứ hành vi văn hóa nào của con người để tồn tại, khẳng định và phát triển trong quan hệ với tự nhiên và xã hội. Nhận thức là yếu tố chất lượng, là thuộc tính hàng đầu của văn hóa.
Không có nhận thức của con người với thế giới tự nhiên, với xã hội rộng lớn và với chính con người vô cùng phong phú, đa dạng thì có thể nói không có văn hóa.