đặt vấn đề phát triển lâu bền và phát triển toàn diện cả kinh tế và văn hoá, vì văn hoá sẽ hỗ trợ và phòng ngự cho sự tăng trưởng kinh tế, trong đó có sự tăng trưởng của các giá trị con người. Văn hoá có mối quan hệ mật thiết với chính trị. Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hoá mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển.
Văn hoá và chính trị đều là những yếu tố của kiến trúc thượng tầng, có quan hệ mật thiết với nhau. Một nền chính trị đúng đắn bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở một nền văn hóa tiến bộ. Khi Hồ Chí Minh nói: ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… thì đó vừa là mục tiêu của chính trị đồng thời là mục tiêu của văn hoá. Một nền văn hóa tiến bộ thì phải hướng vào mục tiêu phục vụ chính trị cao cả của đất nước.
Tại buổi khai mạc Đại hội văn hoá toàn quốc (24-11-1946) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:“Văn hoá liên lạc với chính trị rất mật thiết”. Người xác định: “Văn hoá phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời văn hoá phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lý tưởng chung mà quên lý tưởng riêng”… “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi”[3,tr16]. Khi cả đất nước và dân tộc còn bị nô lệ thì văn hoá cũng cùng chung số phận nô lệ, tuyệt đại nhân dân bị đày đoạ trong vòng tối tăm, dốt nát.
Vì vậy có những nhà yêu nước chủ trương phải khai dân trí, phải nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, sau đó mới tính đến chuyện giành độc lập, tự do cho đất nước và dân tộc. Đường lối cải lương đó đã hoàn toàn bị thất bại. Khi chuẩn bị cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, vấn đề cũng được đặt ra tương tự như vậy. Có người cho rằng cần phải nâng cao trình độ văn hoá của 15 z nhân dân Nga lên trước, rồi sau mới làm cách mạng chính trị.
Lênin đã trả lời: “ Tại sao không làm cách mạng chính trị trước để sau đó có điều kiện thuận lợi nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân Nga? ”. Quan điểm của Lênin đã được thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Lãnh đạo nhân dân ta đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã vạch ra một đường lối mới: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước mà cụ thể ở Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, để giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hoá, mở đường cho văn hoá phát triển. Về vấn đề này Người đã viết: “…Xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hoá của ta vì thế không nảy sinh được”.
“Xã hội thế nào, văn hoá thế ấy. Văn nghệ của dân tộc ta vốn rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được”. Như vậy, văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hoá phải phục vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Văn hoá nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”[9,Tr368-369]. Quan niệm đó của Người đã định hướng cho mọi hoạt động văn hóa, động viên giới văn hoá văn nghệ đi vào kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu “văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá”, đã tạo nên một phong trào văn hóa kháng chiến sôi động chưa từng thấy trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn hóa không đứng ngoài mà đứng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Và cuộc kháng chiến đã trở thành cuộc kháng chiến không thể thiếu văn hoá.
Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh cũng định hướng cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá mới của nước ta trong suốt 20 năm chống Mỹ cứu nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay. Văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị, điều đó có nghĩa là văn hóa phải phục vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển 16 z kinh tế, tác động tích cực trở lại đối với kinh tế và chính trị, như là một động lực hết sức quan trọng. Theo Người, văn hoá không phụ thuộc một cách máy móc vào điều kiện sinh hoạt vật chất, mà văn hóa - tư tưởng phải đi trước một bước để thúc đẩy cho kinh tế - xã hội phát triển. Lênin từng nói: “Người mù chữ đứng ngoài chính trị”.
Chính trên tư tưởng ấy, ngay từ ngày nhân ta mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : “Mọi người Việt Nam… phải có kiến thức mới, để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Lênin coi dốt nát là kẻ thù. Vận dụng lời dạy đó trong hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam, khi mà chính quyền của nhân ta còn trong trứng nước (1945) và thù trong giặc ngoài làm cho nền độc lập của nước ta ở vào tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”, thì Hồ Chủ tịch đề ra 3 nhiệm vụ: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm, cả ba nhiệm vụ đó đều cấp bách và hệ trọng, đều phải tiến hành đồng thời. Người nói: “ Trình độ văn hoá của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ… cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[27, tr 281-282].
Từ đó, suốt mấy chục năm ròng lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến, kiến quốc, Người luôn dạy ta rằng, giống như mặt trận xây dựng kinh tế, mặt trận chống xâm lăng, văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em công tác trên lĩnh vực văn hóa, có nhiệm vụ trực tiếp đóng góp xây dựng, phát triển văn hoá dân tộc - cách mạng - hiện đại với những cống hiến lớn lao của mình cả trên phương diện trí tuệ - sáng tạo và phương diện truyền thụ văn hóa dân tộc, văn hoá thế giới cho nhân dân Việt Nam ta. Cũng phải thấy rằng, văn hoá đứng ở trong kinh tế, chính trị cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hoá, điều mà chủ nghĩa xã hội cũng như thời đại đang đòi hỏi. Văn hoá sẽ càng phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị. Trong thời kỳ hiện nay, Đảng ta xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội”[9, Tr10].2 Tính chất của nền văn hoá mới Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, việc xây dựng một nền văn hoá mới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.
Ngay sáng 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra một loạt vấn đề về văn hoá, như giải quyết nạn dốt, giáo dục nhân dân tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, cấm hút thuốc phiện, tự do tín ngưỡng….Cùng ngày, Người đã ra thông báo về việc tiếp đại biểu các đoàn thể, các tầng lớp nhân dân, nêu ra một phong cách làm việc mới, một thứ văn hoá chính trị mới của người đứng đầu Nhà nước, hoàn toàn khác với chế độ thực dân phong kiến trước kia. Cũng trong ngày đầu tháng 9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thành lập Uỷ ban văn hoá lâm thời Bắc bộ. Trong buổi tiếp đại biểu của Uỷ ban này ngày 7-9-1945. Người nói: “ Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hoá nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới.
Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng quốc dân, đấu tranh cho độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới”. Trong Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam có đoạn: “Xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc. Đồng thời phải phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học, đại chúng”[26,Tr38-39].
Có thể nói đây là lần đầu tiên Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu lên tư tưởng văn hoá một cách ngắn gọn, súc tích, đầy đủ, đặc biệt là về xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học, đại chúng. Từ việc nghiên cứu lịch sử văn hoá Việt Nam, kể cả thời kỳ văn hoá bị nô dịch dưới chế độ thực dân và thời kỳ nền văn hóa dân chủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vai trò, sức mạnh của văn hóa. Xét đến cùng văn hoá là 18 z vũ khí tinh thần để chiến thắng. Kẻ đi áp bức bóc lột dân tộc khác đã dùng những thủ đoạn văn hoá nô dịch để phục vụ cho tham vọng kinh tế và chính trị của chúng.
Những dân tộc bị bóc lột phải chiến thắng kẻ thù bằng chính sức mạnh văn hoá dân tộc mình. Hơn ai hết, khi dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, đặc biệt từ khi bắt gặp ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu tầm quan trọng của văn hoá đối với đời sống con người và sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, đổi mới đất nước. Từ những năm 20 cho đến cuối đời, Người đã hoạt động say sưa, không mệt mỏi trên mặt trận văn hoá.