Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TRONG CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA TRONG KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I- CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm cơ bản a) Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang tính đa nghĩa gắn liền với tất cả các hoạt động sống của con người, từ hoạt động sản xuất vật chất đến hoạt động tinh thần, từ hoạt động của cá nhân tới hoạt động của cộng đồng, phản ánh sức sáng tạo hướng tới các giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Văn hóa là một phẩm chất đặc hữu chỉ thấy ở con người, nó là dấu hiệu để phân biệt con người và động vật. Đồng thời văn hóa là dấu hiệu đặc trưng của tổ chức xã hội loài người, do quá trình học hỏi, tích lũy được mà có, khác với tổ chức của loài vật kế thừa theo bản năng sinh học.Taylor trong công trình Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture, 1871) lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và 9 thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”1.
Từ đó đến nay, các định nghĩa về văn hóa liên tục xuất hiện để nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau trong nhận thức lý luận cũng như đáp ứng nhu cầu của thực tiễn. Nhìn một cách tổng quát, văn hóa được xác định là toàn bộ các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do loài người sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”2. Hội nghị quốc tế bàn về chính sách văn hóa họp tại Mêhicô từ ngày 26/7 đến ngày 26/8/1982 đã đưa ra một quan niệm chung về văn hóa: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về _____________ 1.Taylor: Văn hóa nguyên thủy, Tủ sách văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật dịch và xuất bản, Hà Nội, 2000, tr.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý”1. Khái quát lại có ba cách quan niệm về văn hóa: Cách thứ nhất quan niệm văn hóa như là thuộc tính bản chất của con người, chỉ toàn bộ năng lực lao động sáng tạo của con người hướng tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp (khoa học, đạo đức và thẩm mỹ) để thúc đẩy sự phát triển của xã hội và hoàn thiện nhân cách của con người.
Ở đây, văn hóa là phạm trù chỉ chất lượng của sự sáng tạo trong hoạt động thực tiễn xã hội của con người (bao gồm cá nhân và cộng đồng). Cách thứ hai quan niệm văn hóa bao gồm toàn bộ các hoạt động sáng tạo tinh thần của con người, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và có tác động năng động đối với cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Đây là quan niệm theo lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Cách thứ ba là quan niệm văn hóa như một bộ phận trong cấu trúc tổng thể của xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội (theo quan điểm của Hồ Chí Minh).
Nhìn từ góc độ lý luận chính trị, ba cách quan niệm này đều giúp ích cho các chủ thể chính trị xác định vị trí và vai trò của văn hóa trong tương quan với các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với hoàn cảnh lịch sử - cụ thể ở mỗi giai đoạn khác nhau. Tuyên bố về những chính sách văn hóa, Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến ngày 26/8/1982 tại Mêhicô. Dẫn theo Hoàng Vinh: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Viện Văn hóa, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1999, tr.
11 b) Khái niệm chính trị - Chính trị (tiếng Anh: politic): Là một trong những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của con người phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia về vấn đề giành, giữ, phát triển, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước, là sự tham gia của người dân vào công việc của nhà nước và xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và mục tiêu chính trị đề ra đáp ứng nhu cầu lợi ích của chế độ chính trị. - Chế độ chính trị: Là nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị quốc gia mà trung tâm là nhà nước. Chế độ chính trị được cấu thành bởi sự kết hợp giữa các yếu tố: chính trị, kinh tế - xã hội, tư tưởng, văn hóa, pháp luật. Chế độ chính trị được hiểu rõ nét trong mô hình tổ chức nhà nước, trong hiến pháp của mỗi nhà nước quy định về nguồn gốc và tính chất của quyền lực, sự phân bổ và tổ chức các cơ quan quyền lực, và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực, về mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, giữa các giai cấp và các tầng lớp xã hội, giữa các dân tộc trong nước và thế giới1.
- Quyền lực chính trị: Là quyền sử dụng sức mạnh của một hay liên minh giai cấp và tập đoàn xã hội để đạt mục đích thống trị xã hội, thỏa mãn lợi ích của giai cấp và quốc gia. Đặc điểm của quyền lực chính trị là quyền lực của xã hội nhằm để giải quyết lợi ích của giai cấp, lợi ích của quốc gia, quốc tế, là khả năng áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ _____________ 1. Xem Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam: Từ điển bách khoa Việt Nam, Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, t. 12 giá trị có lợi cho một giai cấp, là sức mạnh bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác.
- Hệ thống chính trị: Bao gồm toàn bộ các tổ chức chính trị, được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội - quyền lực chính trị. Đây là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị cho phù hợp với lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền. - Hệ thống chính trị Việt Nam: Là một chỉnh thể thống nhất theo mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn đảng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ thể chân chính của quyền lực. Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. c) Khái niệm kinh tế Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế là nói đến sở hữu và lợi ích kinh tế được phản ánh vào thu nhập. Theo Wikipedia tiếng Việt: Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn.
13 Thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, chính sách, quy định, quy tắc. về kinh tế gắn với các chế tài xử lý hành vi vi phạm, các tổ chức kinh tế, cơ chế vận hành nền kinh tế. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chi phối của các yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””1.