Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH, TIỀN ĐỀ VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA 1. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học Nho gia 1. Điều kiện kinh tế hình thành tư tưởng biện chứng trong triết học Nho gia Sinh thời, C. Mác (1818 - 1883) nhà tư tưởng vĩ đại của thế giới ở thế kỷ XIX đã khẳng định: “Các nhà triết học không phải những cây nấm mọc trên đất.
Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học”3. Thực tiễn cũng đã cho chúng ta thấy rằng, tư tưởng biện chứng trong triết học Nho gia luôn chịu sự tác động và quy định của những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại. Những tư tưởng biện chứng trong triết học Nho gia không phải là sự xuất hiện mang tính chất tự phát, ngẫu nhiên, mà đó là sự phản ánh những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và kế thừa những tư tưởng trước đó của người Trung Quốc cổ đại. Xuân thu – Chiến quốc là một giai đoạn trong lịch sử Trung Quốc kéo dài từ năm 770 Tr.CN đến năm 221 Tr.
Thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, xã hội Trung Quốc cổ đại đã có nhiều chuyển biến đột phá về kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Sự thay đổi về công cụ sản xuất, phương thức, kỹ thuật canh tác đã tác động tích cực đến sự phát triển tư duy, nhận thức, ngôn ngữ của 3 C.Ăngghen Toàn tập, tập 1 (1995), Nxb. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, tr. 56 người Trung Quốc cổ đại.
Bên cạnh đó, sự chuyển biến từ sở hữu công sang sở hữu tư đã phân loại tầng lớp trong xã hội thành “đại phu” và “thứ dân”, tạo nên sự tách rời lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay. Sự phát triển của tầng lớp lao động trí óc gắn với sự chuyển biến kinh tế thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đã thúc đẩy sự nảy nở và phát triển rực rỡ tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ này nói chung và tư tưởng biện chứng nói riêng. Nền kinh tế Trung Quốc thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Việc phát triển lên thời kỳ đồ sắt đánh dấu một bước tiến vượt bậc của người Trung Quốc trong việc phát triển kinh tế cũng như trình độ văn minh.
Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đem lại những tiến bộ trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã góp phần tăng năng suất lao động. Những kết quả khảo cổ ở Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc năm 1954 đã phát hiện những công cụ lao động, vũ khí bằng sắt…có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 7 Tr. Thời kỳ đồ sắt ở Trung Quốc diễn ra tương đối muộn so với các nền văn minh khác trên thế giới (Trung Đông, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại diễn ra khoảng thế kỷ XII Tr. Thời đại đồ sắt ở Trung Quốc tuy diễn ra muộn nhưng sớm đạt được những kỹ thuật rèn sắt cao, tạo ra công cụ lao động tốt hơn, bền hơn.
Nếu trước đây, người Trung Quốc chỉ có những công cụ bằng gang dễ gãy thì từ khi nước Việt và Ngô tìm được phương pháp kết hợp nấu sắt với rèn sắt thì trình độ rèn sắt Trung Hoa đã có những thành tựu đột phá. Những thành tựu trong thời kỳ đồ sắt đã đưa văn minh Trung Quốc cổ đại lên giai đoạn cao nhất trong ba giai đoạn lịch sử thời cổ đại, đó là: thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng, thời kỳ đồ sắt. Bên cạnh kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt, sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp thời kỳ này còn thể hiện qua hệ thống thủy lợi. Sự hình thành hệ thống thủy lợi đã làm thay đổi to lớn tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác, góp phần mở rộng diện tích đất trồng trọt.CN, nước Ngô thời Phù Sai cho đào những con kênh lớn nối sông Dương Tử với sông Hoài, rồi bốn năm sau lại đào nối nó lên con sông ở phía nam Sơn Đông; sau đó, ở nước Ngụy vào khoảng những năm 330 Tr.CN cũng đào nhiều kênh ở ranh giới Hà Nam và Hà Bắc, một con kênh nối sông Hoàng Hà chảy vào một hồ lớn, một con kênh khác ở miền Khai Phong ngày nay.
Ở nước Tần, từ năm 256 Tr.CN, dưới sự chỉ đạo của Lý Băng và con trai Nhị Lang đã xây dựng đập Đô Giang nằm trên sông Dân (thuộc Tứ Xuyên ngày nay), một công trình thủy lợi nổi bật nhất thời Trung Quốc cổ đại. Ngoài đập Đô Giang, nước Tần còn cho xây dựng kênh Trịnh Quốc nối huyện Kinh và Lạc Thủy. Những công trình thủy lợi này đã giúp nước Tần ngày càng thịnh vượng. Từ sau thế kỷ thứ IV và III Tr.CN, các nước đều chú trọng phát triển thủy lợi; kênh Tây Mông Báo ở nước Ngụy; kênh Hồng, kênh Hàn ở nước Tề, nước Sở.
Những công trình thủy lợi không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn góp phần điều tiết dòng chảy các con sông góp phần giảm thiểu hạn hán và lũ lụt; bên cạnh đó các công trình thủy lợi còn tạo nên những con đường giao thương giữa hai dòng sông lớn của Trung Quốc là Hoàng Hà và Trường Giang và góp phần tạo nên những vùng đất trù phú như Tứ Xuyên, Thiểm Tây. Sự xuất hiện của công cụ bằng sắt và các công trình thủy lợi đã thay đổi mạnh mẽ nền nông nghiệp Trung Quốc cổ đại. Các kỹ thuật canh tác mới đặc biệt là luân canh được áp dụng, diện tích đất trồng trọt được mở rộng, trâu bò được sử dụng trong cày kéo,…đã giúp người Trung Quốc trồng trọt nhiều giống cây trồng mới, tăng sản lượng nông nghiệp, tăng năng suất lao động, dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền. Sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn cuối thời kỳ Xuân thu đã dần phá vỡ phương thức sản xuất đã tồn tại suốt hàng ngàn năm dưới sự trị vì của nhà Tây Chu.
Trước đây, nhà Chu quản lý toàn bộ của cải vật chất trong xã hội kể cả nô lệ và nông dân. Kinh Thi có câu: “Khắp gầm trời, không đâu không phải đất của nhà vua; khắp mặt đất, bến nước, không người nào không phải là bề tôi của vua”4. Nhà Chu chia đất cho nông dân theo theo phép “tỉnh điền” đã có từ nhà Thương, chỉ khác nhà Thương là diện tích đất được tăng lên. Phép “tỉnh điền” là mảnh đất được chia thành những hình vuông có hình chữ “tỉnh” gồm chín phần vuông bằng nhau và chia cho tám gia đình canh tác, mảnh đất ở giữa các gia đình cùng nhau cày cấy để nộp cho nhà vua.
Đến thời kỳ Xuân thu, diện tích đất trồng trọt thuộc sở hữu tư nhân ngày càng tăng lên mạnh mẽ do: đất dân khẩn hoang từ tự nhiên; các chư hầu phong đất cho các công thần, quý tộc; các thương nhân, địa chủ bỏ tiền mua bán; bên cạnh đó giai cấp quý tộc, quan lại bằng quyền lực đã thu vén đất công làm của tư. Sau đó, chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất còn được các nước thừa nhận và được pháp luật bảo vệ. Bên cạnh chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, việc phát triển công cụ sản xuất, phương pháp canh tác nông nghiệp hiệu quả đã làm suy yếu và tan rã chế độ “tỉnh điền”. Sự tan rã của chế độ “tỉnh điền” buộc các nước phải thực hiện hình thức tính thuế mới đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu).
Nước đầu tiên tiến hành chế độ quản lý và thu thuế mới là nước Lỗ năm 549 Tr.CN, nước Tần năm 350 Tr. Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất đã tạo nên sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng rõ rệt nhưng bên cạnh đó, nó cũng khuyến khích người dân khai khẩn đất hoang, áp dụng những biện pháp canh tác hiệu quả. Từ đó, các nước với chính sách thuế mới đã thu hoa lợi nhiều hơn trước. Chính sự phát triển trong nông nghiệp cùng với chế độ tư hữu về ruộng đất đã dẫn đến hiện tượng tư gia giàu hơn công thất.
Trước kia vua cắt đất cho đại phu, đại phu cho bồi thần, mỗi vùng thành lập thái ấp riêng với diện tích đất cố định nên họ không thể phát triển thành thế lực 4 Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi (1989), Chiến Quốc sách, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, tr 97 riêng; cho nên trong mỗi quốc gia chỉ có quốc đô mới có thế lực quan trọng. Nhưng khi tư gia đã có ruộng đất sở hữu tư nhân, họ thu hút nô lệ, nông nô, xây kho lẫm, lập quân đội riêng, thái ấp riêng, xây thành mới là lúc thế lực của tầng lớp này trở nên lớn dần. Sự lớn mạnh của tầng lớp tư gia đã làm suy yếu đáng kể tầng lớp công thất ở các nước chư hầu. Cùng với sự chuyển biến của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự phân công lao động đã đưa các ngành thủ công nghiệp thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc phát triển đến một trình độ cao, tách hẳn ra khỏi nông nghiệp thành những ngành nghề riêng biệt như: nghề luyện kim (sắt, đồng), nghề gốm, nghề mộc, nghề dệt lụa, đóng thuyền… Nghề đúc đồng đến thời Chu đã đạt được những sản phẩm hoàn hảo cả về chất lượng lẫn nghệ thuật.
Những cuộc khảo cổ mới đây phát hiện các công cụ phục hoạt động sinh hoạt, sản xuất, các đồ thờ cúng vô cùng tinh xảo với chất lượng cao như đồ thờ cúng, tế lễ, chuông, gương đồng, lưỡi cày, lưỡi liềm, búa, dao, kiếm ngắn. Trên nền tảng của nghề đúc đồng, đến giữa thời kỳ Xuân thu nghề luyện sắt được ra đời. Nghề luyện sắt hình thành giữa thời kỳ Xuân thu, đến giai đoạn cuối thời Chiến quốc đã đạt được trình độ cao cả về kỹ thuật lẫn quy mô. Cuối Xuân thu, nước Ngô đã dựng lò luyện sắt với quy mô lớn và quy trình sản xuất chặt chẽ, lượng nhân công làm việc lên đến 300 người, nước Tấn thực hiện chính sách thu gom sắt để đúc đỉnh hình.
Ở thời kỳ này, nghề gốm cũng là nghề nổi bật, với những kỹ thuật và trình độ tinh xảo. Cuối thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc ở nước Ngô và Việt đã xuất hiện một loại gốm tráng men đã đạt đến trình độ và chất lượng có thể gọi là gốm sứ.