chương I này đã trở thành nguồn tư liệu quan trọng cho chúng tôi khi đi phân tích các tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt trong luận án. Cuốn Triết học đại cương [50] của tập thể tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Đắc Lý, Lê Kim Bình (2013) là một công trình khá dầy dặn về lịch sử triết học từ triết học Cổ đại đến triết học phương Tây hiện đại. Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra những khái niệm mang tính chất nhập môn về triết học và các lĩnh vực của nó. Diện mạo chung của triết học Hy Lạp cổ đại lại tiếp tục được các tác giả làm rõ, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tính chất triết lý bằng cuộc đời, ý nghĩa triết học của cái chết, tính chất đạo đức, thầy và trò, tính chất đối thoại của tư duy, tính cởi mở của triết thuyết và tư duy cá nhân.
Các tác giả tiếp tục đi khái quát về phương pháp của Arixtốt, về học thuyết bốn nguyên nhân, về nhà nước và đức hạnh như là cơ sở để làm cho cuộc sống trở nên thiện và hạnh phúc hoàn toàn. Cuốn Lịch sử triết học phương Tây, Tập 1 [51], của tác giả Đỗ Minh Hợp (2014) đã phân tích, biện giải, lập luận phù hợp, hiệu quả để giới thiệu một cách hệ thống, sâu sắc, sinh động quá trình hình thành và phát triển của triết học phương Tây từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ hiện đại, trong đó, phần 14 z chương II viết về triết học cổ đại, tác giả đã đưa ra những khái niệm chung và sự phân định các thời kỳ, các trường phái cùng những đại diện tiêu biểu của thời kỳ này trong đó có Xôcrát, Platôn cùng Arixtốt. Trong phần Arixtốt, tác giả giới thiệu khái quát về cuộc đời, tư tưởng, lôgíc học, siêu hình học, đạo đức học và chính trị. Phần về đạo đức học Arixtốt, tác giả đã phân tích về vai trò của đức hạnh đối với cuộc sống trong đó và khẳng định đức hạnh thể hiện ở sự cân bằng nội tâm như là cái khắc phục những thái cực, phương pháp đạt đến đức hạnh là tập quán, thói quen cùng với sự trợ giúp của trí tuệ và lý trí để xác định cái thiện là gì cần tuân thủ nó như thế nào.
* Một số công trình nghiên cứu nước ngoài Cuốn Lịch sử triết học phương Tây [112] của Viện nghiên cứu triết học Liên Xô do Đặng Thai Mai dịch (1956) gồm 8 chương là một giáo trình do một số giáo sư thuộc Viện Triết học Liên Xô biên soạn và xuất bản. Chương thứ nhất của giáo trình có trình bày về điều kiện lịch sử xây dựng nền triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, và đặc biệt là sự phát sinh và đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, trong đó khẳng định lập trường triết học duy tâm của Xôcrát và Platôn, nhị nguyên của Arixtốt. Tuy nhiên, các chương sau của cuốn sách này cũng chưa đi vào phân tích quan điểm đạo đức của Arixtốt. Cuốn Lịch sử triết học, tập 1 - Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại, triết học Tây Âu Trung cổ [42] của Johannes Hirschberger (1991) do Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn Chí Hiếu dịch đã phân tích khá tỉ mỉ về lôgíc học của Arixtốt, về bản chất và nguồn gốc của tri thức; về siêu hình học; học thuyết về nhà nước.
Tuy nhiên phần bàn về đạo đức học mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu về tính nguyên tắc của đạo đức học; nguồn gốc của tri thức về đức hạnh; về ý chí và tự do trong hành vi đạo đức. Công trình Câu chuyện triết học [20] của Will Durant (2000) do Trí Hải, Bửu Đích dịch đã khái quát toàn bộ tiến trình lịch sử phương Tây từ thời 15 z cổ đại đến hiện đại qua câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của các triết gia. Trong đó, tác giả đã trình bày khái quát về những nét độc đáo và đặc trưng nhất của tư tưởng đạo đức Arixtốt. Công trình Lịch sử triết học và các luận đề [93] của Samuel Enoch Stumpf (2004) đã tiếp cận triết học phương Tây theo từng vấn đề cụ thể trong đó, các tư tưởng đạo đức được tác giả rất coi trọng.
Tác giả đã trình bày những học thuyết đạo đức tiêu biểu thể hiện các lập trường đạo đức trong lịch sử triết học phương Tây trong đó đạo đức của Arixtốt được gọi là đạo đức học mục đích. Cuốn Nhập môn triết học phương Tây [94] của Samuel Enoch Stumpf và Donald C. Abel (2004) cũng dành một chương để trình bày về các học thuyết đạo đức tiêu biểu trong lịch sử triết học phương Tây. Tư tưởng đạo đức của Arixtốt cũng được tác giả tái hiện với những phạm trù cơ bản nhất với tên gọi là học thuyết thể hiện bản tính con người.
Cuốn Những vấn đề cơ bản của triết học [123] của S.Frost, JR, Ph.D do Đông Hương và Kiến Văn biên dịch (2008) đã phân tích một số tư tưởng của Arixtốt theo hệ thống các vấn đề cơ bản. Trong số các vấn đề cơ bản đó, khi đi khái quát về Thiện và Ác, các tác giả đã rút ra nhận xét về quan điểm đạo đức của Arixtốt rằng, đối với Arixtốt thì cuộc sống tốt là một cuộc sống mà con người nhận thức đầy đủ phần bản chất tự nhiên cao cả nhất của con người là lý trí. Cuốn Đạo đức học hiện đại: Cội nguồn và những vấn đề [1] của E. Zolotukhina-Abolina do Nguyễn Anh Tuấn (2018) dịch trong đó đã khái quát nội dung cơ bản của đạo đức học Arixtốt, đồng thời khẳng định, Arixtốt coi đạo đức học là khoa học ứng dụng thực tiễn, đề cao vấn đề giáo dục đạo đức trên cơ sở những tiền đề tự nhiên; tính duy lý, tự nguyện của các hành vi đạo đức, đặc biệt là trung điểm vàng như là sự hoàn thiện trong hành vi và phẩm chất đạo đức.
16 z Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu tư tưởng của Arixtốt trong lịch sử văn minh thế giới như: Văn minh phương Tây, tập 1 [10] của C. Lê Wolff (Bản dịch của Nguyễn Văn Lương, 1971); Lịch sử văn minh phương Tây [11] của tập thể tác giả Mortimer Chambers, Barbara Hanawait, David Herlihy, Theodore K. Rabb Isser Woloch, Raymond Grew (bản dịch của Lưu Văn Hy, Nguyễn Đức Phú và nhóm Trí Tri, 2004); Nền tảng văn minh phương Tây [60] của các tác giả Mark Kishlansky, Patrick Geary, Patricia O’Brien (Lê Thành dịch, 2005); Những nền văn minh thế giới – thế giới cổ đại [112] do Trung tâm UNESCO dịch thuật (Ngô Văn Tuyến, Thái Hoàng chỉnh lý, bổ sung, 2006),… từ nhiều góc độ đã tái hiện diện mạo của nền văn minh thế giới, trong đó Arixtốt được nhắc tới như một biểu tượng của văn minh Hy Lạp. Các nghiên cứu của ông từ sinh vật học, lôgíc, nghệ thuật, thi ca,.
cho đến những tư tưởng triết học, đạo đức, chính trị đã được các tác giả trình bày và phân tích như những giá trị mà ông đã cống hiến cho nhân loại. Qua đó có thể thấy rằng, Arixtốt không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà triết học mà ông còn ghi lại những dấu ấn không nhỏ trong lịch sử văn minh nhân loại. Tóm lại, nhóm công trình nêu trên đã cung cấp cho chúng tôi một bức tranh khá tổng quan, toàn diện và tương đối đầy đủ về giai đoạn triết học Hy Lạp cổ đại, là nguồn chất liệu để chúng tôi chắt lọc, kết nối theo chuỗi mang tính lịch sử - lôgíc để thấy được những tiền đề mang tính cốt lõi cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt. Phần lớn các tác phẩm chuyên khảo về Arixtốt đều là những tác phẩm đã khai thác một cách hệ thống và đầy đủ các nội dung trong triết học của nhà bách khoa thư này.
Tuy vậy, các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh tư tưởng đạo đức của Arixtốt về cái thiện và tính công bằng, sự trung bình đúng mực và giáo dục đạo đức cũng như đánh giá một cách toàn diện giá trị tư tưởng đạo đức của ông. Do đó, đây vẫn còn là một nội dung cần được tiếp tục khai khác. Các nghiên cứu liên quan đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay Nghiên cứu về đạo đức, đạo đức học và đạo đức con người Việt Nam trong quá khứ và hiện tại là một trong những mảng nghiên cứu vừa có tính lý luận vừa có giá trị thực tiễn, do đó, đã thu hút được sự chuyên tâm của rất nhiều học giả, tuy nhiên chúng tôi chỉ lựa chọn khai thác, kế thừa những công trình tiêu biểu, có nhiều ý nghĩa hiện thời. Tác giả Nguyễn Thế Nghĩa (1997) trong cuốn Triết học với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [76] đã đưa ra nhận định: “nhiều nhà nghiên cứu về hiện đại hóa đã chỉ ra rằng: trong vòng một thế kỷ nay, nền văn minh phương Tây đã làm giàu của cải vật chất và tinh thần, đồng thời cũng làm nảy sinh trong lý luận và thực tiễn những quan điểm, tâm trạng hạ thấp phương diện tinh thần của tồn tại người.
Điều này được thể hiện trong quan niệm sống và lối sống của con người chỉ gắn với điều kiện vật chất, với tiêu dùng mà coi thường hoặc quên đi yếu tố truyền thống đạo đức, văn hóa và nhân văn” [76, tr. Đây là một khái quát giúp cho chúng ta thấy được trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta không thể đặt sự quan tâm rời xa các vấn đề về đạo đức và tinh thần của con người, đặc biệt là đạo đức và văn hóa truyền thống của dân tộc. Do đó, các tác giả Nguyễn Thế Nghĩa và Nguyễn Thị Hương Giang (2017) trong cuốn Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và giữ gìn phát huy giá trị truyền thống của dân tộc [78] tiếp tục đưa ra hệ thống các giải pháp chủ yếu để giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc: “Một là, nâng cao nhận thức và tăng cường giáo dục giá trị truyền thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hai là, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tính tích cực, sáng tạo của giá trị truyền thống và chuyển hóa chúng thành hoạt động thực tiễn xây dựng đất nước trong điều kiện toàn cầu hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Ba là, huy động và tập trung tối đa các 18 z nguồn lực vật chất và tinh thần, con người và cơ chế chính sách, luật pháp và các lực lượng xã hội để giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc.