Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Tư tưởng đạo đức của Arixtốt và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Quỳnh Trang tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Hữu Toàn. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 80 05.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, văn hóa và giáo dục, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Môi trường văn hóa xuất hiện nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh, tội phạm và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, dẫn đến sự suy giảm niềm tin trong các mối quan hệ xã hội cơ bản (gia đình, nhà trường, cơ quan công quyền). Để khắc phục tình trạng này, việc nghiên cứu lý luận nhằm nâng cao nhận thức đạo đức và giáo dục hành vi chuẩn mực là yêu cầu cấp bách. Vấn đề hoàn thiện đạo đức đòi hỏi sự kế thừa biện chứng những giá trị tinh hoa của lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong đó, triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và tư tưởng đạo đức học của Arixtốt nói riêng đại diện cho đỉnh cao tư tưởng đạo đức phương Tây thời cổ đại, cung cấp những gợi mở lý luận có giá trị cho thực tiễn xây dựng con người Việt Nam hiện nay.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích làm rõ bối cảnh, tiền đề hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt và nội dung tư tưởng đạo đức của Arixtốt, từ đó rút ra ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
    2. Phân tích, làm rõ bối cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa, nghệ thuật và khoa học cùng với tiền đề lý luận, đặc biệt là cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của ông.
    3. Làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức của Arixtốt.
    4. Phân tích mục tiêu hoàn thiện đạo đức và những khiếm khuyết của đạo đức con người Việt Nam hiện nay, từ đó làm rõ ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng đạo đức của Arixtốt và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án chủ yếu khảo cứu tư tưởng đạo đức của Arixtốt qua hai tác phẩm chính là Đạo đức học của Nicomaque và Chính trị luận, cùng ý nghĩa của những tư tưởng này đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thông tin luận án Chi tiết
Tên đề tài Tư tưởng đạo đức của Arixtốt và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay
Tác giả Phạm Quỳnh Trang
Người hướng dẫn PGS. TS Đặng Hữu Toàn
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62 22 80 05)
Năm bảo vệ 2019
Kết cấu Mở đầu, 4 chương (13 tiết), Kết luận, Danh mục công trình tác giả, Tài liệu tham khảo

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:

1. Các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, tiền đề hình thành và tư tưởng đạo đức của Arixtốt

  • Các công trình trong nước:
    • Nguyễn Văn Dũng (1996) với Arixtốt với học thuyết phạm trù trình bày chi tiết về cuộc đời và phân chia các nhóm tác phẩm của Arixtốt.
    • Vũ Văn Viên (1998) với Triết học Arixtốt khảo sát toàn diện các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, lôgíc học, đạo đức học và chính trị học.
    • Đinh Ngọc Thạch (1999) trong Triết học Hy Lạp cổ đại phân tích sự phân kỳ triết học Hy Lạp, bối cảnh kinh tế - chính trị và vai trò của Arixtốt, chỉ ra mối quan hệ giữa đạo đức học và chính trị học.
    • Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn (2006) trong Đại cương lịch sử triết học phương Tây phân tích đặc trưng văn minh Hy Lạp, phương pháp tiếp cận lịch sử và quan niệm về hạnh phúc của Arixtốt.
    • Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên, 2007) trong Aristotle và Hàn Phi Tử con người chính trị và thể chế chính trị so sánh góc nhìn về bản tính tự nhiên của con người giữa hai nhà tư tưởng phương Đông và phương Tây.
    • Đỗ Minh Hợp (2010) với Lịch sử triết học đại cương phân tích mười hai tín điều đạo đức học phẩm hạnh của Arixtốt.
    • Trần Hậu Kiêm (2011) với tập bài giảng Lịch sử đạo đức học khái quát tiến trình đạo đức học từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến hiện đại.
    • Nguyễn Tấn Hùng (2012) trong Lịch sử triết học phương Tây từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức hệ thống hóa quan niệm về hạnh phúc và bảy đức hạnh trung dung của Arixtốt.
    • Đinh Thanh Xuân (2013) trong Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại làm rõ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thần thoại Hy Lạp.
    • Đỗ Minh Hợp và cộng sự (2013, 2014) trong Triết học đại cương và Lịch sử triết học phương Tây (Tập 1) phân tích sự cân bằng nội tâm, thói quen đạo đức và sự trợ giúp của lý trí trong việc đạt tới cái thiện.
  • Các công trình nước ngoài:
    • Giáo trình Lịch sử triết học phương Tây của Viện Triết học Liên Xô (Đặng Thai Mai dịch, 1956) làm rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
    • Johannes Hirschberger (1991, bản dịch của Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn Chí Hiếu) trong Lịch sử triết học (Tập 1) khảo cứu nguyên tắc đạo đức, tri thức về đức hạnh và ý chí tự do.
    • Will Durant (2000, bản dịch của Trí Hải, Bửu Đích) với Câu chuyện triết học và Samuel Enoch Stumpf (2004) với Lịch sử triết học và các luận đề tiếp cận đạo đức học Arixtốt như một học thuyết đạo đức mục đích.
    • S. Frost, JR (2008) và E. Zolotukhina-Abolina (2018) phân tích cuộc sống tốt dựa trên lý trí và khái niệm "trung điểm vàng".
    • Các tài liệu lịch sử văn minh của C. Lê Wolff (1971), Mortimer Chambers và cộng sự (2004), Mark Kishlansky và cộng sự (2005), Trung tâm UNESCO dịch thuật (2006).

2. Các nghiên cứu liên quan đến đạo đức con người Việt Nam hiện nay

  • Nguyễn Thế Nghĩa (1997, 2017) phân tích tác động của văn minh công nghiệp, kinh tế thị trường đến đời sống tinh thần và đề xuất các giải pháp bảo tồn giá trị truyền thống trong toàn cầu hóa.
  • Vũ Khiêu và Thành Duy (2000) trong Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam làm rõ vai trò kết hợp giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
  • Đỗ Huy (2001), Vũ Khiêu (2005), Trường Lưu (2006) nhấn mạnh tính trí tuệ, văn minh và việc xây dựng hệ giá trị tinh thần từ nền tảng văn hóa dân tộc.
  • Phạm Duy Đức (2008), Trần Văn Bính (2010), Hoàng Chí Bảo (2010), Nguyễn Văn Dân (2011) nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người trong đổi mới.
  • Hoàng Tuấn Anh và cộng sự (2012), Trần Thị Minh (2014), Trần Ngọc Thêm (chủ biên, 2015) khảo sát hệ giá trị văn hóa và nhân cách người Việt.
  • Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên (chủ biên, 2015) trong Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập công bố kết quả điều tra xã hội học trên 1.004 đối tượng (công nhân, nông dân, trí thức, học sinh sinh viên), chỉ ra các vấn đề tiêu cực nổi cộm (tham nhũng, quan liêu, cửa quyền, mua bằng bán điểm) và các khiếm khuyết tâm lý - tập quán của người Việt.
  • Các nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự (2016) trên cơ sở Văn kiện Đại hội XII của Đảng về sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Các nghiên cứu trước chưa đi sâu làm nổi bật bối cảnh nhà nước - thành bang (polis) Athen với tính chất tự do tư tưởng và sự phát triển toàn diện của các ngành khoa học - nghệ thuật như một tiền đề đặc thù cho tư tưởng đạo đức Arixtốt.
  2. Chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách có hệ thống tư tưởng đạo đức của Arixtốt tập trung qua hai tác phẩm nền tảng Đạo đức học của Nicomaque và Chính trị luận theo bốn phạm trù: cái thiện, tính công bằng, sự trung bình đúng mực và giáo dục đạo đức.
  3. Chưa có công trình làm rõ sự bổ khuyết và ý nghĩa của các nguyên lý đạo đức Arixtốt đối với việc khắc phục các khiếm khuyết đạo đức cụ thể của con người Việt Nam hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được triển khai trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng văn hóa, đạo đức, con người (thể hiện qua các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI, XII và Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

Luận án làm rõ và thao tác các khái niệm công cụ cơ bản:

  • Tư tưởng: Sự phản ánh hiện thực trong ý thức, thể hiện mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh; là hệ thống quan điểm mang tính triết học định hướng hoạt động thực tiễn.
  • Đạo đức: Theo nghĩa hẹp là luân lý, quy tắc ứng xử giữa người với người; theo nghĩa rộng gắn liền với chính trị, pháp luật, lối sống, là thành phần cơ bản của nhân cách. Dưới góc độ mácxít, đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và các quan hệ kinh tế - xã hội.
  • Tư tưởng đạo đức: Hệ thống quan điểm về vai trò, chuẩn mực, giá trị và nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức được hình thành trên cơ sở thực tiễn và tác động trở lại đời sống xã hội.
  • Giáo dục đạo đức: Quá trình kết hợp giữa giáo dục nhận thức lý tính (hình thành niềm tin, tình cảm đạo đức) với rèn luyện thói quen, hành vi ứng xử trong đời sống thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng cách tiếp cận triết học kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp thống nhất lịch sử và lôgíc.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
  • Phương pháp so sánh và đối chiếu.
  • Phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành (văn hóa học, đạo đức học, xã hội học).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các văn bản dịch thuật tác phẩm kinh điển của Arixtốt (Đạo đức học của Nicomaque, Chính trị luận), các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng hệ thống sách chuyên khảo, giáo trình, bài báo khoa học về lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại và thực trạng văn hóa - đạo đức con người Việt Nam.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan thành hai trục nội dung: nghiên cứu về bối cảnh, cuộc đời, tư tưởng triết học - đạo đức học của Arixtốt; và nghiên cứu về thực trạng, định hướng phát triển đạo đức con người Việt Nam. Trên cơ sở tổng thuật, chương này xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính và làm rõ hệ thống khái niệm công cụ (tư tưởng, đạo đức, tư tưởng đạo đức, giáo dục đạo đức), tạo cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ công trình.

Chương 2: Tiền đề cho sự hình thành tư tưởng đạo đức của Arixtốt

Chương 2 phân tích các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan dẫn đến sự ra đời học thuyết đạo đức của Arixtốt:

  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Địa bàn Địa Trung Hải với đồng bằng màu mỡ và giao thông biển thuận lợi thúc đẩy thủ công nghiệp, thương nghiệp phát triển. Chế độ nhà nước - thành bang (polis) ra đời, tiêu biểu là Athen với nền cộng hòa dân chủ chủ nô, đề cao sự tham gia chính trị của công dân tự do, luật pháp thành văn thay thế quyền lực tùy tiện của quý tộc, tòa án nhân dân với 6.000 thẩm phán. Tuy nhiên, chế độ polis vẫn tồn tại hạn chế giai cấp khi tước quyền công dân của phụ nữ và bóc lột tầng lớp nô lệ.
  • Văn hóa, nghệ thuật và khoa học:
    • Sự thông thái Hy Lạp: Mang tính công truyền, thế sự, gắn liền với đạo đức và đời sống thực tế của con người, khác với sự thông thái bí truyền phương Đông.
    • Phép ngụy biện và nghệ thuật tư duy: Đặt con người làm trung tâm phán đoán; phân biệt ranh giới giữa tồn tại tự nhiên (tất yếu, bản tính) và tồn tại quy định nhân tạo (luật pháp, tập quán); hình thành nghệ thuật tu từ học và tranh luận công khai.
    • Khoa học, nghệ thuật và văn học: Thần thoại Hy Lạp phản ánh tư duy duy lý về trật tự và quy luật nhân quả; hai sử thi Iliát và Ôđisêy của Hôme giáo dục ý chí vượt khó, lòng dũng cảm và đức hạnh; ngụ ngôn Êdốp răn dạy chuẩn mực làm người; các thành tựu toán học của Talét, Pitago, Ơclít; đạo đức y học của Hipôcrat; tinh thần hòa bình từ Đại hội thể thao Ôlimpíc.
  • Tiền đề lý luận: Sự kế thừa và phê phán tư tưởng đạo đức của Xôcrát (tri thức là đức hạnh) và Platôn (học thuyết ý niệm và nhà nước lý tưởng).
  • Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm: Phân chia sự nghiệp sáng tạo của Arixtốt thành ba nhóm khoa học (lý thuyết, thực tiễn, sáng tạo), trong đó đạo đức học thuộc nhóm khoa học thực tiễn, được trình bày tập trung trong hai tác phẩm Đạo đức học của Nicomaque và Chính trị luận.
Bối cảnh Hy Lạp Cổ đại (Kinh tế thương nghiệp, Polis Athen, Dân chủ & Pháp luật thành văn)
Nền tảng Văn hóa - Tri thức (Sự thông thái công truyền, Tu từ học, Thần thoại, Sử thi, Toán học)
Tiền đề Lý luận (Tư tưởng đạo đức của Xôcrát và Platôn)
Tư tưởng Đạo đức Arixtốt (Khảo cứu qua Đạo đức học của Nicomaque & Chính trị luận)

Chương 3: Tư tưởng đạo đức của Arixtốt

Chương 3 trình bày hệ thống quan điểm đạo đức học của Arixtốt qua bốn nội dung cốt lõi và đánh giá giá trị, hạn chế của học thuyết:

  • Tư tưởng về cái thiện: Cái thiện là mục đích tối cao của mọi hoạt động con người. Cái thiện tối cao gắn liền với trạng thái hạnh phúc (eudaimonia). Hạnh phúc không thuần túy là khoái lạc giác quan hay của cải bên ngoài, mà là hoạt động của linh hồn phù hợp với lý trí và đức hạnh trọn vẹn.
  • Tư tưởng về tính công bằng: Công bằng là đức hạnh xã hội cao nhất, điều chỉnh quan hệ giữa các công dân trong thành bang. Arixtốt phân chia thành công bằng phân phối (dựa trên tỷ lệ hình học theo phẩm giá, đóng góp) và công bằng điều chỉnh/sửa sai (dựa trên tỷ lệ số học để bù đắp thiệt hại trong giao dịch dân sự hoặc hình sự).
  • Tư tưởng về sự trung bình đúng mực ("trung điểm vàng"): Đức hạnh đạo đức là trạng thái trung dung nằm giữa hai thái cực sai lầm: sự thái quá (dư thừa) và sự bất cập (thiếu hụt). Trung điểm vàng không phải là phép tính trung bình số học cứng nhắc mà là sự đúng mực được xác định bởi lý trí trong từng hoàn cảnh cụ thể (ví dụ: lòng dũng cảm là điểm trung gian giữa sự liều lĩnh và sự hèn nhát).
  • Tư tưởng về giáo dục đạo đức cho công dân và đội ngũ cầm quyền: Đức hạnh không phải là phẩm chất bẩm sinh có sẵn mà hình thành nhờ quá trình giáo dục và rèn luyện thói quen lâu dài. Đạo đức gắn bó hữu cơ với chính trị; nhà nước có trách nhiệm ban hành luật pháp tốt để định hình thói quen tốt cho công dân; người cầm quyền phải là tấm gương về đức hạnh và sự tiết độ.
  • Đánh giá tư tưởng đạo đức của Arixtốt:
    • Giá trị: Đặt nền móng cho đạo đức học thực hành mang tính duy lý; hệ thống hóa các phạm trù đạo đức; kết hợp chặt chẽ giữa lý trí, đức hạnh, pháp luật và hạnh phúc.
    • Hạn chế: Mang dấu ấn của lập trường giai cấp chủ nô; biện hộ cho chế độ nô lệ tự nhiên và sự bất bình đẳng đối với phụ nữ.

Chương 4: Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay

Chương 4 kết nối lý luận đạo đức học cổ đại với thực tiễn xây dựng con người Việt Nam:

  • Mục tiêu và thực trạng đạo đức con người Việt Nam hiện nay:
    • Mục tiêu: Xây dựng con người phát triển toàn diện (5 đức tính theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII: yêu nước; ý thức tập thể; lối sống lành mạnh, cần kiệm, tôn trọng kỷ cương; lao động sáng tạo; thường xuyên học tập nâng cao trình độ).
    • Thực trạng và khiếm khuyết: Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường làm gia tăng chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền; tệ quan liêu, tham nhũng; tình trạng thiếu kỷ cương, tư tưởng cào bằng, đạo đức giả; sự suy thoái tư tưởng chính trị và lối sống trong một bộ phận cán bộ.
  • Sự bổ khuyết của tư tưởng đạo đức Arixtốt:
    • Hoàn thiện nhận thức đạo đức: Vận dụng quan niệm về cái thiện và lý trí của Arixtốt để nâng cao năng lực phán đoán đạo đức; khắc phục tư duy duy ý chí; nhận thức đúng đắn về sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng; tiếp thu nguyên tắc trung điểm vàng để tránh các khuynh hướng cực đoan (hoặc bảo thủ trì trệ, hoặc thực dụng quá trớn).
    • Hoàn thiện hành vi đạo đức: Chuyển hóa nhận thức đạo đức thành thói quen hành vi hàng ngày thông qua thực hành liên tục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức và thực thi nghiêm minh kỷ cương pháp luật; đề cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tương tự như yêu cầu của Arixtốt đối với tầng lớp cầm quyền thành bang.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Về mặt tiền đề lịch sử - lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm rõ bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội của nhà nước - thành bang Athen cùng môi trường văn hóa, nghệ thuật, khoa học và các tiền đề triết học tiền bối (Xôcrát, Platôn), chứng minh tính tất yếu của sự ra đời học thuyết đạo đức học Arixtốt.
  2. Về mặt nội dung tư tưởng: Khái quát một cách toàn diện và sâu sắc các nội dung trọng tâm trong tư tưởng đạo đức của Arixtốt qua hai tác phẩm Đạo đức học của Nicomaque và Chính trị luận, tập trung vào 4 phạm trù trụ cột: cái thiện, tính công bằng, sự trung bình đúng mực ("trung điểm vàng") và giáo dục đạo đức.
  3. Về mặt vận dụng thực tiễn: Chỉ ra tính tương đồng và giá trị bổ khuyết của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với việc hoàn thiện nhận thức và hành vi đạo đức của con người Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Kiến nghị và định hướng giải pháp

  • Tăng cường giáo dục lý tính và rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động thực tiễn trong gia đình, nhà trường và xã hội.
  • Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức và thực thi pháp luật, bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng xã hội để định hướng chuẩn mực hành vi.
  • Đẩy mạnh công tác xây dựng chuẩn mực đạo đức công vụ và sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm củng cố niềm tin xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát tư tưởng đạo đức của Arixtốt chủ yếu qua hai văn bản Đạo đức học của Nicomaque và Chính trị luận. Tiếp cận dưới giác độ triết học và lịch sử tư tưởng nên các giải pháp đề xuất tập trung vào định hướng nhận thức và phương pháp luận, chưa xây dựng thành các mô hình can thiệp xã hội học thực nghiệm cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát các văn bản đạo đức học khác của Arixtốt như Đạo đức học Eudemos (Eudemian Ethics) và Đạo đức học Lớn (Magna Moralia).
    • Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa tư tưởng đạo đức Arixtốt với các trường phái triết học đạo đức phương Đông cùng thời kỳ (Nho gia, Đạo gia, Pháp gia) trong mối tương quan với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng & Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Lịch sử triết học), Đạo đức học, Văn hóa học và Khoa học chính trị.
  • Giảng viên giảng dạy các học phần Lịch sử triết học phương Tây cổ đại, Đạo đức học đại cương và Văn hóa học tại các trường đại học, học viện.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý văn hóa và giáo dục quan tâm đến vấn đề xây dựng nhân cách, chuẩn mực đạo đức và giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

Các phần đáng tham khảo sâu:

  • Hệ thống hóa tiền đề văn hóa - khoa học Hy Lạp cổ đại (Chương 2).
  • Phân tích nội dung phạm trù cái thiện, công bằng và "trung điểm vàng" (Chương 3).
  • Luận giải về sự kết hợp giữa giáo dục nhận thức lý tính và rèn luyện thói quen hành vi đạo đức (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi văn bản cốt lõi nào được luận án sử dụng để khảo cứu tư tưởng đạo đức của Arixtốt?

Luận án tập trung khảo cứu tư tưởng đạo đức của Arixtốt chủ yếu qua hai tác phẩm tiêu biểu của ông là Đạo đức học của Nicomaque (Nicomachean Ethics) và Chính trị luận (Politics).

2. Mô hình thể chế nhà nước - thành bang (polis) Athen đã tạo tiền đề gì cho tư tưởng đạo đức của Arixtốt?

Chế độ polis tại Athen là hình thức lịch sử đầu tiên của xã hội công dân, nơi quyền lực dựa trên pháp luật thành văn được thông qua bởi trưng cầu dân ý, cơ chế bỏ phiếu toàn dân và tòa án nhân dân với 6.000 thẩm phán. Môi trường tự do tư tưởng và dân chủ này đã thúc đẩy ý thức trách nhiệm công dân, gắn kết chặt chẽ đạo đức cá nhân với đời sống chính trị của cộng đồng.

3. Nguyên lý "trung điểm vàng" (sự trung bình đúng mực) trong đạo đức học Arixtốt được hiểu như thế nào?

Theo Arixtốt, đức hạnh đạo đức là trạng thái cân bằng nội tâm, khắc phục hai thái cực sai lầm: sự thái quá (dư thừa) và sự bất cập (thiếu hụt). Trung điểm vàng không phải là trung bình số học cố định mà là sự đúng mực được lý trí soi sáng để hành động đúng lúc, đúng đối tượng, đúng mục đích và đúng mức độ trong từng hoàn cảnh thực tế.

4. Luận án chỉ ra tư tưởng đạo đức Arixtốt có ý nghĩa bổ khuyết những khiếm khuyết nào của con người Việt Nam hiện nay?

Tư tưởng của Arixtốt góp phần bổ khuyết các khiếm khuyết như: lối sống thực dụng, vị kỷ, sùng bái đồng tiền, tư duy cào bằng, tình trạng coi nhẹ kỷ cương pháp luật và thói quen đạo đức giả. Việc tiếp thu tư tưởng này giúp nâng cao năng lực phán đoán duy lý về cái thiện, xác lập sự công bằng xã hội và rèn luyện thói quen hành vi đạo đức chuẩn mực.

5. Những phương pháp nghiên cứu chính nào được tác giả sử dụng trong luận án?

Luận án sử dụng cách tiếp cận triết học kết hợp hệ thống các phương pháp: thống nhất lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa và phương pháp tiếp cận liên ngành.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quỳnh Trang là công trình nghiên cứu hệ thống về tư tưởng đạo đức của Arixtốt từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa của nền văn minh Hy Lạp cổ đại cùng các phạm trù đạo đức học nền tảng như cái thiện, tính công bằng, trung điểm vàng và giáo dục đức hạnh. Trên cơ sở đó, luận án luận giải sâu sắc giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng đạo đức Arixtốt đối với nhiệm vụ nâng cao nhận thức, hoàn thiện hành vi và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện hiện nay.