mở đầu một phong trào khoa học mới, tên này xuất phát từ tên một bộ sách cũ của Aristotle là “Công cụ” (Organon). Nhưng về nội dung và hình thức, nó chống lại quan điểm của Aristotle, đề cao chủ nghĩa duy nghiệm.Bacon cho rằng, lý tính hình thức xuyên tạc sự thật, chỉ có kinh nghiệm cho ta biết đúng về sự vật [xem: 63, tr. Cuốn “Triết học phương Tây trước Mác: những vấn đề cơ bản” của Lê Thanh Sinh đã chỉ ra quan niệm của F.Bacon về bản chất của nhận thức khoa học, - đó chính là việc nhận thức các quy luật của thế giới tự nhiên, việc nhận thức đó theo một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp [xem: 57, tr. Trong Luận văn thạc sĩ “Học thuyết của F.
Bacon về nhận thức”, đề cập tới quan niệm của F.Bacon về bản chất của nhận thức khoa học, Nguyễn Thị Hồng Diệp cho rang, F.Bacon coi cơ sở của nhận thức là trực giác cảm tính cùng với việc xử lý chúng một cách hợp lý sau đó thành biểu tượng và khái niệm, là “liên minh giữa cảm tính và lý tính thể hiện ở việc đi từ những ấn tượng đơn nhất đến các nguyên tắc và các tiên đề, quá trình nhận thức là việc phát hiện ra các quy luật đang tôn tại trong tự nhiên” [7, tr. Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã nêu bật quan niệm của F.Bacon về bản chất của nhận thức khoa học là quan niệm duy cảm duy vật. Nhận thức có đối tượng của mình chính là các quy luật khách quan của giới tự 20 nhiên. Nhận thức luôn phải xuất phát từ kinh nghiệm cảm tính như sự phản ánh của giới tự nhiên.
Các nhận xét này là xác đáng. Tuy nhiên, chúng mới chỉ dừng lại ở cấp độ khái quát, chưa được phân tích cụ thể và toàn diện. Tác giả của luận án đặt ra nhiệm vụ làm sáng tỏ toàn diện và sâu sắc quan niệm của F.Bacon về ban chất của nhận thức. Quan niệm của F.Bacon về triết học kinh viện Trong cuốn triết học Trung cô Tây Âu của Doãn Chính — Dinh Ngoc Thạch, các tác giả đã chỉ ra thái độ của F.Bacon khi phê phán gay gắt triết học kinh viện, các nhà triết học kinh viện thực sự chỉ ngồi trong bốn bức tường và rút ra những kết luận mơ hé từ những suy luận không có tính xác thực.
Không biết đánh giá ý nghĩa của kinh nghiệm đối với việc nhận thức giới tự nhiên, các nhà triết học kinh viện trông cậy vào giải pháp tư biện, vào sức mạnh của “lý tính thuần túy” mà, theo F.Bacon, cé đạt tới cái chung nhất dé an bài ở đó. Tính chất tư biện của triết học kinh viện thể hiện không chỉ ở việc phân tích tùy tiện những khái niệm trừu tượng hiện có mà trước hết còn ở việc hình thành tùy tiện bản thân các khái niệm trừu tượng. Việc hình thành đúng chúng đòi hỏi phải có sự hiện diện của lý tính và dữ liệu kinh nghiệm. Trong cuốn Lịch sử triết học Phương Tây trước Mác của Trần Văn Phòng, tác giả cũng đã phân tích quan niệm của F.Bacon đối với căn bệnh của triết học kinh viện, đó là sự sáo rong, tư biện, sự suy diễn vô căn cứ.
Bản thân chính sự vô căn cứ và suy diễn ấy, nó khiến cho con người không thé nhận thức được chân lý, khiến cho triết học trở thành đầy tớ của thần học của tôn giáo [xem: 54, tr. Tác giả lê Thanh Sinh trong cuốn (Triết học phương Tây trước Mác, những vấn đề cơ bản) cũng đã rút ra những quan điểm cơ bản của F.Bacon về sự hạn chế của triết học kinh viện. Sự mù quáng trong nhận thức, sự sùng bái đến mức u mê của các nhà triết học kinh viện đối với nhà thờ và tôn giáo đã làm cho nhận thức của con người bị tê liệt, không có sự sáng tạo. 21 Có thé nhận thấy, quan niệm của F.Bacon về triết học kinh viện cũng đã có một số công trình đề cập đến, thế nhưng bước đầu các tác giả mới chỉ tái hiện hoặc giới thiệu quan niệm cơ bản của F.bacon về triết học kinh viện, thế nhưng đi sâu phân tích một cách có hệ thống quan niệm của F.Bacon về chủ nghĩa chủ quan trong nhận thức, hay phê phán chủ nghĩa giáo điều hoặc tính chất tư biện của triết học kinh viện trong tác phẩm công cụ mới thì hoàn toàn chưa có công trình nào.
Mặc dù vậy những công trình trên cũng có những đóng góp quan trọng đối với quá trình phân tích các quan điểm của F.Bacon về triết học kinh viện mà tác giả luận án trình bày trong nội dung luận án. Quan niệm của F.Bacon vé con đường nhận thức khoa học Trong cuốn “Lịch sử triết học phương Tây trước Mác”, tác giả Trần Văn Phòng đã phân tích rất sâu sắc quan niệm của F.Bacon về con đường nhận thức khoa học, theo đó thì để đạt được nhận thức chân lý, con người cần phải loại bỏ những trở ngại trên con đường nhận thức của mình - đó chính là các ảo ảnh, hay là các ngẫu tượng, chính các ngẫu tượng này đã cản trở nhận thức của con người, làm cho nhận thức ấy không thể đạt đến chân lý. Do vậy, trước khi nhận thức, cần phải loại bỏ các ảo ảnh hay ngẫu tượng cản trở nhận thức của con người. Bên cạnh đó, xuất phát từ việc chỉ ra quan niệm của F.Bacon về các trở ngại trên con đường nhận thức chân lý, tác giả Trần Văn Phòng đã có sự so sánh các phương pháp nhận thức ( con nhện, con kiến, con ong) và chỉ ra ưu, nhược điểm của từng phương pháp nhận thức.
Về những trở ngại trên con đường nhận thức khoa học, các tac giả của cuốn “Lịch sử triết học” (do Nguyễn Hữu Vui chủ biên) đã có nhận định xác đáng về mục đích của học thuyết về ngẫu tượng (idola) của F.Bacon là “chi ra những sai lầm nghiêm trọng không thé tránh khỏi của con người trong nhận thức” [xem: 75, tr. Theo các tác giả, các trở ngại này mang tính cô hữu, bắt nguồn từ chính bản chất của trí tuệ con người. Tiếp theo, các tác giả trình 22 bày khái quát sự phân loại ngẫu tượng của F. Đó là (1) ngẫu tượng loài có nguyên nhân là việc loài người lẫn lộn bản chất trí tuệ của mình với bản chất khách quan của sự vật, việc khắc phục nó đòi hỏi phải hoàn thiện phương tiện nhận thức; (2) ngẫu tượng hang động có nguyên nhân của mình là chủ quan tính của mỗi người trong nhận thức, việc khắc phục nó đòi hỏi phải hoàn thiện nhân cách con người; (3) ngẫu tượng đám đông (ảo tưởng chợ búa) có nguyên nhân của mình là việc phục tùng mù quáng các quan điểm hiện có hay bị rơi vào cạm bẫy của ngôn ngữ; (4) ngẫu tượng rạp hát có nguyên nhân của mình là ảnh hưởng của các học thuyết thống trị.
Đánh giá khái quát học thuyết về ngẫu tượng của F.Bacon, các tác giả cho răng, “trong việc xác định bản chất và nguyên nhân của các ngẫu tượng, F.Bacon còn mang tính trực quan. Chủ yếu ông chỉ nhận thấy khía cạnh nhận thức của vấn đề, vì vậy chưa đưa ra được các biện pháp khắc phục ngẫu tượng một cách hợp lý” [xem: 75, tr. Tiếp theo, các tác giả chỉ ra răng, F.Bacon nhận thấy “tam đoạn luận của Aristotle dưới hình thức luận giải của triết học kinh viện mang nặng tính tư biện và máy móc, qua đó trở thành một trở ngại trên con đường nhận thức của con người” [xem: 75, tr. Trong cuốn “Đại cương lịch sử triết học phương Tây”, tập thể tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn cho răng, việc chỉ ra bốn ngẫu tượng nhằm thanh tay ý thức là nhiệm vụ thứ nhất.
Tiếp theo, các tác giả trình bày khái quát bốn ngẫu tượng và nguyên nhân xuất hiện của chúng. Cụ thể, đó là: (1) ngẫu tượng tộc loại có cơ sở ở chính bản tính con người, chúng bắt nguồn từ bản thân loài người, là thói quen áp đặt bản chất của mình cho bản chất của các sự vật; (2) ngẫu tượng hang động xuất hiện từ những thiên hướng cá nhân, từ giáo dục và những thói quen; (3) ngẫu tượng chợ búa sinh ra do sử dụng sai các danh từ và các tên gọi; (4) ngẫu tượng rạp hát công khai được chuyên tải và lĩnh hội từ các lý luận bịa đặt và các quy tắc chứng minh 23 sai lầm (ba hình thức tư duy sai: ngụy biện, duy nghiệm và mê tín di đoan). Các tác giả cũng nhấn mạnh rang, với F.Bacon thì mục đích chung của học thuyết về ngẫu tượng được quy định bởi vai trò giáo dục xã hội của nó [xem: 20, tr. Các tác giả của cuốn Lịch sử triết học ( Nguyễn Hùng Hậu chủ biên) đã trình bày cô đọng tư tưởng của F.Bacon về phương pháp nhận thức khoa học.
Theo các tác giả, trước hết F.Bacon đưa ra đánh giá về hai phương pháp nhận thức phổ biến là “phương pháp con nhện”, khi các tiền đề và kết luận về bản chất của sự vật được rút ra từ số ít băng chứng, do vậy tri thức nhận được không đáng tin cậy, và “phương pháp con kiến”, khi nhà nghiên cứu hoàn toàn tập trung vào việc mô tả, thu thập dữ liệu về sự vật mà lại không biết cách rút ra kết luận về bản chất của sự vật.Bacon xây dựng “phương pháp con ong” nhằm khắc phục hạn chế của hai phương pháp nêu trên như các lập trường duy lý và duy cảm cực đoan và phát huy các ưu điểm của chúng.Bacon thực chất đã bảo vệ phương pháp quy nạp loại trừ như phương pháp tối ưu [xem: 16, tr. Trong tập 2 cuốn “Lịch sử triết học phương Tây” gồm 3 tập, tác giả Đỗ Minh Hợp đã khái quát học thuyết của F.Bacon về phương pháp. Theo tác giả, học thuyết này có nội dung là các yêu cầu về phương pháp: (1) phân chia giới tự nhiên, nghiên cứu tách biệt những vật thể và quá trình cụ thể của nó, cũng như là mô tả và phân tích riêng biệt bộ mặt của tự nhiên vật chất và quy luật của nó; (2) phân chia không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện để tách biệt cái đơn giản nhất; (3) phát hiện ra các quy luật của tự nhiên và của các lĩnh vực của nó; (4) làm sáng tỏ vấn đề chuyên từ kinh nghiệm sang sử dụng lý tính và loại bỏ mối nguy hiểm bắt nguồn từ tính đa dạng và thường biến của kinh nghiệm, bắc chiếc cầu nối liền nội dung kinh nghiệm với nội dung lý thuyết [xem: 26, tr. 24 Như vậy, đối với quan niệm của F.