mở đầu chiến tranh thế giới thứ hai bằng cách không tuyên chiến: “ngày 1- 9-1939, không tuyên chiến, quân Đức tràn vào Ba Lan. Để tấn công Ba Lan, Đức đã có sự chuẩn bị từ lâu và đưa vào Ba Lan một lực lượng to lớn: 70 sư đoàn (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng và 6 sư đoàn cơ giới, với hơn 3000 máy bay). Nước Đức có quá trình tư bản chủ nghĩa chậm hơn so với các nước khác ở châu Âu, đặc biệt là chậm hơn so với Anh và Pháp nên lượng thuộc địa ít hơn hai nước này. Nhằm chia lại thị trường thế giới, Đức đã phát động những cuộc chiến tranh.
Ở hai cuộc chiến tranh thế giới Đức đều là nước thua trận. Các cuộc chiến tranh thế giới với số lượng người tham gia đông đảo, các quốc gia và các dân tộc bị lôi kéo lớn, sự tàn khốc của nó làm cho con người cảm thấy lo âu, hoảng sợ. Erich Fromm đã chỉ ra rằng: “nguy cơ của chiến tranh cũng gớp thêm vào tâm trạng bất lực của cá nhân. Thật vậy, có quá nhiều cuộc chiến trong thế kỷ XIX.
Nhưng kể từ cuộc chiến cuối cùng, nguy cơ của sự hủy diệt đã lớn lên khủng khiếp – số người bị tác động bởi chiến tranh đã tăng đến mức hầu như không trừ một ai – đến nỗi nó đã trở thành một cơn ác mộng, phủ bóng đen lên toàn bộ cuộc sống của họ, làm gia tăng tâm trạng sợ hãi và bất lực trên mỗi cá nhân” [16, tr. Tóm lại, kinh tế - chính trị châu Âu ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhiều thay đổi. Sự khủng hoảng của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, với những mâu thuẫn sâu sắc diễn ra trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa. Erich Fromm sống ở Frankfurt, nước Đức nên không tránh khỏi sự ảnh hưởng của những biến đổi ấy.
Đặc biệt, Erich Fromm đã chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh khi mới chỉ 14 tuổi. Chính điều đó đã tác động đến 15 z tâm lý của Erich Fromm, làm chất chứa trong ông những mâu thuẫn của sự thù hận và ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng của ông sau này. Điều kiện văn hóa – xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội cũng có sự thay đổi không ngừng. Sự phát triển của kinh tế làm cho các nước tư bản chủ nghĩa luôn đi tìm thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm.
Với việc đầu tư tư bản vào các nước, văn hóa cũng đi theo sự đầu tư tư bản ấy xâm nhập vào các nước thuộc địa và phụ thuộc. Văn hóa của các nước có nền kinh tế phát triển ở châu Âu chiếm lĩnh không chỉ ở châu Âu mà trên toàn thế giới. Giáo dục ở các nước trên khắp châu Âu được đầu tư và mở rộng giúp cho tỷ lệ người dân biết đọc, biết viết ngày càng tăng lên. Xã hội xuất hiện những loại hình văn hóa mới, trong đó có “văn hóa đại chúng”.
Thời kỳ này có nhiều khám phá mới về mặt khoa học kỹ thuật, kinh tế không ngừng tăng trưởng làm cho người châu Âu hào hứng với một giai đoạn thăng hoa của kinh tế lẫn xã hội. Giai đoạn này tạo thành một trào lưu thể hiện trong toàn bộ văn hóa châu Âu “Chủ nghĩa lãng mạn”. Người châu Âu không ngờ đằng sau sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế là mặt trái ghê gớm của nó. Norman Davies đã so sánh giai đoạn cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX với giai đoạn trước như sau: Những nguyên lý chính của phong trào lãng mạn trái hẳn với mọi điều mà Thời Đại Khai Sáng đã đại diện.
Không giống như thời đại Khai Sáng nhấn mạnh đến sức mạnh của lý trí, những người lãng mạn chủ nghĩa bị cuốn hút bởi mọi điều không có sự dẫn dắt của lý trí trong trải nghiệm của con người: những đam mê, sự siêu nhiên, mê tín, đau khổ, điên khùng và cái chết. Trong khi thời đại Khai Sáng nhấn mạnh đến sự gia tăng sức mạnh làm chủ thiên nhiên của con người, những nhà lãng mạn cảm thấy thích thú đến run sợ khi không thể chế ngự của tự nhiên: trong cái hoang vắng của sa mạc, sự cô đơn của biển cả. Thời đại Khai Sáng tuân theo sở thích có tính cổ điển về hài hòa và kiềm chế, tuân thủ những nguyên tắc có tính nền tảng của quy ước văn minh, còn những nhà lãng 16 z mạn theo đuổi mọi điều mang tính thách thức các quy ước đã thiết định: sự hoang dã, kỳ quặc hoặc cổ lỗ một cách hấp dẫn, có nguồn gốc xa xôi, đưa từ ngoài vào (ngoại lai), thuộc một thế giới khác, người bị loạn trí. Khi thời đại Khai Sáng hướng đến trình bày trật tự nằm dưới vẻ hỗn loạn của thế giới, những nhà lãng mạn lại bị lôi cuốn bởi “tâm linh” ẩn khuất bên trong vạn vật.
Thời đại Khai Sáng tỏ ra bài tôn giáo hoặc không tôn giáo, trong khi đó, những nhà lãng mạn là những người rất sùng đạo, ngay cả khi họ khinh thường những lễ nghi có tính quy ước của Thiên Chúa Giáo [Xem 3, tr. Chủ nghĩa lãng mạn được thể hiện trong hầu hết các lĩnh vực văn hóa như: văn học, triết học, tôn giáo,…Đối với văn học có hàng loạt những tác gia văn học nổi tiếng như: Alphonse de Lamartine (1790 – 1869) những sáng tác của ông là vẻ đẹp của hồ Bourget và những ý tưởng về vĩnh hằng; hay Giacomo Leopardi (1798 – 1837) với Dạ khúc người chăn cừu lang thang của châu Á;…đặc biệt là những tác phẩm của Alexander Pushkin (1799 – 1837), Adam Mickiewicz (1798 – 1855), và J.Goethe các tác phẩm của những tác gia này có sự kết hợp giữa cổ điển và lãng mạn thành một tổng thể khó có thể phân định để xếp vào cổ điển hay lãng mạn. Triết học trong thời kỳ này xuất hiện nhiều nhà triết học, đặc biệt là G.Hegel (1770 – 1831) và những người theo trường phái của ông đã tạo ra sự tranh luận rộng khắp ở châu Âu. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều triết gia đã dần nhận ra mặt trái của tiến bộ kỹ thuật, thông qua những tác phẩm khác nhau, với những khía cạnh khác nhau.
Các đại biểu với quan điểm nhân văn đã bày tỏ sự quan tâm không những tới những vấn đề do tiến bộ khoa học – kỹ thuật sinh ra (như vấn đề hạt nhân và sinh thái) mà chủ yếu quan tâm tới một thực tế là con người có nguy cơ đánh mất bộ mặt của riêng mình khi đối diện với sức mạnh kỹ thuật. Nói cách khác, tin tưởng vào sức mạnh toàn năng của những thành tựu kỹ thuật, con người có thể vô tình đánh mất những giá trị nhân văn, như năng lực thấu hiểu và đồng cảm với người thân, khái niệm về cái thiện và ác, điều này kéo theo sự phi nhân văn hóa quan hệ của xã hội và quan hệ của cá nhân với nhau. 17 z Nguy cơ như vậy là hoàn toàn hiện thực và có thể nhận thấy tính hiện thực của nó ở khắp nơi. Chúng ta nhận thấy đa số các nhà triết học phương Tây hiện đại đều bảo vệ và thực hiện cách tiếp cận nhân văn trong tác phẩm của mình [Xem 22, tr.
Ở giai đoạn này, tôn giáo sau một thời gian lắng xuống cũng bắt đầu có sự hồi sinh. Nhiều nước ở châu Âu ngoài đạo Công giáo vốn đã được thừa nhận, đạo Tin Lành, Do thái giáo sau một thời gian bị pháp luật cấm đoán cũng đã được chấp nhận ở nhiều nơi. Ở Đức, quê hương của Erich Fromm, giáo lý đạo Tin Lành của Luther và Calvin đã cho thấy sự nổi trội và dần cuốn hút được đông đảo các tầng lớp tin theo, đặc biệt là tầng lớp trung lưu. Khoa học công nghệ phát triển, dẫn đến quá trình tập trung hóa sản xuất, đại đa số quần chúng hoặc là tập hợp dưới sự chỉ đạo của một bộ phận nhỏ các nhà tư sản, sự khủng hoảng của kinh tế dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới; mà trong chiến tranh người lính phải luôn luôn tuân thủ tuyệt đối người chỉ huy ở chiến trường.
Điều này càng thể hiện rõ nét hơn trong quá trình giáo dục: ngay từ lúc còn nhỏ, trẻ em luôn được dạy lặp đi lặp lại một vấn đề nào đó. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông, công việc buôn bán hàng hóa cũng phát triển đến một mức độ nhất định. Những nhà Marketing bán hàng hóa của mình thông qua việc quảng cáo liên tục trên các kênh truyền thông và được lặp đi lặp lại hàng ngày làm cho con người trong xã hội hiện đại không kịp suy nghĩ theo cách nghĩ của mình. Con người trong xã hội hiện đại bị đánh mất mình không còn suy nghĩ theo cách riêng của mình mà theo những lối suy nghĩ vốn có ở bên ngoài.
Con người không còn khẳng định được chính mình nữa và đã biến thành con người đại chúng. Theo Ortecga I Gasset: “Con người đại chúng là người không thể đánh giá mình từ mặt tốt cũng như từ mặt xấu, là người cảm thấy mình “như tất cả mọi người” và hoàn toàn không thấy đau khổ vì điều đó. Con người đại chúng không tự đòi hởi nhiều ở mình. Không cố gắng tự hoàn thiện, không thích tự làm cho cuộc sống trở nên phức tạp.
Nó thích sống kiểu nước chảy bèo trôi. Nó giải quyết khá tốt vấn đề vật chất của mình. Nó có thói quen không dựa vào một quyền uy tinh thần nào, ngoài quyền 18 z uy của bản thân. Xét từ góc độ trí tuệ, con người đại chúng là người khi giải quyết một vấn đề trí tuệ nào đó thì thỏa mãn với tư tưởng nảy sinh đầu tiên trong đầu” [Dẫn theo 22, tr.
Hàng loạt các nhà tư tưởng ở giai đoạn này đã phê phán xã hội hiện đại - xã hội công nghiệp làm cho con người tự đánh mất mình.Mác, việc người công nhân không nhận được những giá trị trong những sản phẩm mà mình làm ra mà bị nhà tư sản chiếm đoạt gọi đó là “tha hóa trong lao động” và C.Mác kêu gọi đại đa số quần chúng đoạt lại giá trị sản phẩm của mình bằng cách mạng. Trong khi đó, Freud lại xem xét tha hóa ở góc độ tâm thần. Freud khám phá ra cái vô thức và sự tương tác giữa cái vô thức với cái ý thức và cái siêu ý thức.