Vận dụng quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên - Vũ Thị Hà

Dưới đây là meta tags cho bài viết: { "ai_description": "123doc cung cấp thông tin chi tiết về phương pháp phát triển du lịch bền vững trong giáo dục đào

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2013

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên

Quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên là phương pháp tiếp cận tích hợp, xem xét đạo đức không chỉ dưới góc độ tri thức mà còn bao gồm thái độ, hành vi và mối quan hệ xã hội. Tại Việt Nam, quan điểm này được xây dựng trên nền tảng triết học Mác-Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật, coi đạo đức là hệ thống thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hành động. Giáo dục đạo đức toàn diện nhằm hình thành nhân cách sinh viên thông qua ba trụ cột: giáo dục nhận thức đạo đức (hiểu biết về chuẩn mực), giáo dục tình cảm đạo đức (yêu ghét đúng đắn) và giáo dục hành vi đạo đức (thực hành chuẩn mực). Phương pháp này khắc phục hạn chế của giáo dục đạo đức truyền thống khi chỉ tập trung vào lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn đời sống sinh viên. Sự vận dụng quan điểm toàn diện đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tạo môi trường giáo dục thống nhất, liên tục.

1.1. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên bắt nguồn từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến của triết học Mác-Lênin, khẳng định mọi sự vật hiện tượng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Giáo dục đạo đức không thể tách rời khỏi bối cảnh kinh tế-xã hội, văn hóa và tâm lý lứa tuổi sinh viên. Theo quan điểm này, đạo đức được cấu thành từ ba yếu tố: nhận thức đạo đức (hiểu biết về các chuẩn mực), tình cảm đạo đức (sự rung cảm trước cái thiện ác) và hành vi đạo đức (hành động phù hợp chuẩn mực). Sự thống nhất giữa ba yếu tố này quyết định hiệu quả giáo dục. Ngoài ra, quan điểm toàn diện còn nhấn mạnh vai trò của thực tiễn đạo đức, nơi ý thức đạo đức được thể hiện thành hành động cụ thể, có ý nghĩa xã hội.

1.2. Tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay

Trong giai đoạn hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, sinh viên Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức đạo đức như lối sống thực dụng, thiếu trách nhiệm cộng đồng và sự xói mòn các giá trị truyền thống. Quan điểm toàn diện giúp giải quyết triệt để những vấn đề này bằng cách xây dựng hệ thống giáo dục đạo đức linh hoạt, phù hợp với đặc thù tâm lý lứa tuổi. Nó thúc đẩy sinh viên phát triển toàn diện, không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có phẩm chất đạo đức vững vàng. Đặc biệt, phương pháp này góp phần ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực như gian lận trong học tập, thiếu kỷ luật và thờ ơ với cộng đồng. Giáo dục đạo đức toàn diện còn tạo nền tảng cho sinh viên thích ứng với những biến đổi xã hội nhanh chóng.

II. Thực trạng vận dụng quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên

Hiện nay, việc vận dụng quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên tại Việt Nam còn nhiều bất cập, thể hiện qua sự thiếu thống nhất giữa lý thuyết và thực hành. Nhiều trường đại học vẫn duy trì phương pháp giáo dục đạo đức theo lối truyền thống, tập trung vào giảng dạy lý thuyết mà ít chú trọng đến rèn luyện kỹ năng sống và thực hành đạo đức. Thực tế khảo sát cho thấy chỉ khoảng 30% sinh viên có ý thức đạo đức tốt, trong khi 50% còn lại có biểu hiện thiếu trách nhiệm, kỷ luật lỏng lẻo. Nguyên nhân chính là do môi trường giáo dục chưa thực sự thân thiện, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo đạo đức còn nặng về lý thuyết, thiếu các hoạt động trải nghiệm thực tế để sinh viên rèn luyện phẩm chất đạo đức. Sự thiếu hụt này dẫn đến tình trạng sinh viên có nhận thức đạo đức nhưng không thể hiện thành hành vi phù hợp trong cuộc sống.

2.1. Những thành tựu đạt được

Mặc dù còn nhiều hạn chế, một số trường đại học đã bắt đầu áp dụng quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên thông qua các chương trình ngoại khóa, hoạt động tình nguyện và giáo dục kỹ năng sống. Nhiều sinh viên tham gia các hoạt động cộng đồng như hiến máu nhân đạo, dạy học tình nguyện đã phát triển ý thức trách nhiệm xã hội và lòng nhân ái. Các câu lạc bộ đạo đức, kỹ năng sống cũng góp phần nâng cao nhận thức đạo đức cho sinh viên. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục đạo đức đã được cải thiện, thể hiện qua các buổi họp phụ huynh định kỳ và chương trình giáo dục đạo đức gia đình. Những nỗ lực này đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành vi đạo đức của sinh viên.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Nguyên nhân chính của hạn chế là do quan điểm giáo dục đạo đức chưa thực sự toàn diện, thiếu sự thống nhất giữa các cấp học và bộ môn. Nhiều giảng viên còn ngại đổi mới phương pháp giảng dạy, tiếp tục sử dụng phương pháp thuyết giảng truyền thống. Môi trường xã hội cũng tác động tiêu cực đến giáo dục đạo đức khi lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và sự xuống cấp của đạo đức xã hội đang len lỏi vào môi trường học đường. Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cũng hạn chế việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức toàn diện. Nhiều trường đại học chưa có phòng tư vấn tâm lý, không gian sinh hoạt cộng đồng đạt chuẩn, dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu động lực rèn luyện đạo đức.

III. Giải pháp nâng cao giáo dục đạo đức sinh viên trên nền tảng quan điểm toàn diện

Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh viên theo quan điểm toàn diện, cần triển khai đồng bộ ba giải pháp chính: đổi mới chương trình đào tạo, xây dựng môi trường giáo dục thân thiện và tăng cường phối hợp giữa các bên liên quan. Chương trình đào tạo phải tích hợp giáo dục đạo đức vào tất cả các môn học, không chỉ giới hạn ở môn giáo dục công dân. Môi trường giáo dục cần được cải thiện bằng cách xây dựng các không gian sinh hoạt cộng đồng, phòng tư vấn tâm lý và tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội phải được thể chế hóa thông qua các quy chế hoạt động chung, chia sẻ thông tin và đánh giá định kỳ. Ngoài ra, cần tăng cường vai trò của giảng viên trong việc hướng dẫn sinh viên rèn luyện đạo đức thông qua các buổi thảo luận nhóm, dự án tình nguyện và các hoạt động đoàn thể. Giải pháp này đòi hỏi sự cam kết từ cấp lãnh đạo nhà trường và sự ủng hộ của toàn xã hội.

3.1. Đổi mới chương trình đào tạo đạo đức

Chương trình đào tạo đạo đức sinh viên cần được xây dựng theo hướng tích hợp, kết hợp giữa giáo dục lý thuyết và thực hành. Các môn học về đạo đức nên được lồng ghép vào tất cả các môn chuyên ngành, không chỉ giới hạn ở môn giáo dục công dân. Nội dung đào tạo phải cập nhật thường xuyên để phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay, bao gồm các vấn đề đạo đức mới như đạo đức trong môi trường số, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Phương pháp giảng dạy cần đổi mới, sử dụng các phương pháp tích cực như thảo luận nhóm, đóng vai, dự án học tập để sinh viên chủ động tham gia. Đánh giá kết quả học tập cũng cần thay đổi, không chỉ dựa vào điểm số mà còn đánh giá thái độ, hành vi đạo đức thông qua các hoạt động thực tế.

3.2. Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện

Môi trường giáo dục thân thiện là yếu tố quan trọng để giáo dục đạo đức sinh viên toàn diện. Nhà trường cần đầu tư xây dựng các không gian sinh hoạt cộng đồng như thư viện, phòng học nhóm, sân thể thao đạt chuẩn. Các hoạt động ngoại khóa như câu lạc bộ đạo đức, tình nguyện, thể dục thể thao cần được đa dạng hóa để sinh viên có cơ hội rèn luyện phẩm chất đạo đức. Phòng tư vấn tâm lý nên được thành lập tại tất cả các trường đại học để hỗ trợ sinh viên giải quyết các vấn đề tâm lý, đạo đức. Ngoài ra, môi trường học đường cần đảm bảo an toàn, lành mạnh, không có hiện tượng bạo lực, phân biệt đối xử. Sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động quản lý nhà trường cũng góp phần xây dựng môi trường giáo dục dân chủ, thân thiện.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên là phương pháp tiếp cận khoa học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn cho thấy, việc vận dụng quan điểm này góp phần nâng cao nhận thức và hành vi đạo đức của sinh viên, góp phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao, cần có sự nỗ lực từ nhiều phía: cải cách chương trình đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường phối hợp giữa các bên liên quan và đổi mới phương pháp giảng dạy. Các trường đại học cần xem giáo dục đạo đức là nhiệm vụ trọng tâm, không chỉ trong phạm vi nhà trường mà còn mở rộng ra cộng đồng. Chính sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần có những điều chỉnh kịp thời để hỗ trợ triển khai quan điểm toàn diện một cách hiệu quả. Đây là giải pháp căn cơ để đào tạo thế hệ sinh viên vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới.

4.1. Khẳng định vai trò của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện trong giáo dục đạo đức sinh viên khẳng định đạo đức không chỉ là hệ thống lý thuyết trừu tượng mà là hệ thống thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hành vi. Phương pháp này giúp sinh viên phát triển toàn diện, không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có phẩm chất đạo đức vững vàng. Nó góp phần ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong học đường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Quan điểm toàn diện còn tạo nền tảng cho sinh viên thích ứng với những biến đổi xã hội nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ số. Đây là phương pháp giáo dục tiên tiến, phù hợp với triết học Mác-Lênin và yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao.

4.2. Định hướng triển khai trong tương lai

Trong tương lai, giáo dục đạo đức sinh viên cần được triển khai theo hướng chuyên nghiệp hóa, ứng dụng công nghệ và tăng cường hợp tác quốc tế. Các trường đại học nên xây dựng hệ thống quản lý chất lượng giáo dục đạo đức, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 21001. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đạo đức, như sử dụng phần mềm quản lý hành vi đạo đức, ứng dụng học tập trực tuyến về đạo đức sẽ nâng cao hiệu quả. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và triển khai giáo dục đạo đức sẽ giúp sinh viên tiếp cận với những phương pháp giáo dục tiên tiến trên thế giới. Cuối cùng, cần xây dựng chính sách khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức, như cấp học bổng, ghi nhận thành tích trong hồ sơ cá nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

30/05/2026
123doc su van dung quan diem toan dien trong giao duc dao duc cho sinh vien viet nam hien nay khoa luan triet hoc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - Cơ sở triết học của quan điểm toàn diện 1.1 Nội dung về mối liên hệ phổ biến * Khái quát về phép biện chứng duy vật: Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ phổ biến đối với sự vật, hiện tượng khác. Phép biện chứng (PBC) ra đời gắn với sự phát triển của triết học từ thời cổ đại và từng bước hoàn thiện trong ba hình thức cơ bản đó là: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật. 4 - Phép biện chứng chất phác thời cổ đại Do trình độ tư duy chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp mang tính trực quan cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới.

PBC chất phác được thể hiện rõ ràng trong thuyết “Âm dương - Ngụ hành ” của triết học Trung Hoa cổ, trung đại. Dưới con mắt của Heraclit mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay đổi vận động phát triển không ngừng. Luận điểm bất hủ của ông: “Chúng ta không thể tẳm hai lần trên một dòng sông”. Song PBC này thiếu những căn cứ khoa học.

Vì vậy, nó đã bị PBC siêu hình xuất hiện từ cuối thế kỷ XV thay thế. - Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học Hêghen - một đại biểu của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản, Hêghen là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh PBC duy tâm, tính chất duy tâm trong PBC của Hêghen thể hiện ở chỗ: Ông coi “ỷ niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội, cuối cùng lại trở về với chính mình. Thực chất PBC duy tâm khách quan của Hêghen là PBC coi ý niệm sản sinh ra PBC của sự vật. PBC cổ điển Đức có những đóng góp vào sự phát triển tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao nhưng với hạn chế duy tâm của nó chưa thể trở thành cơ sở lý luận cho một thế giới quan khoa học.

- Phép biện chứng duy vật kế thừa có chọn lọc những thành tựu về phép biện chứng của các nhà triết học trước đó, dựa trên cơ sở khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học thời ấy và thực tiễn lịch sử loài người cũng như thực tiễn xã hội vào giữa thế kỷ XIX C.Ăngghen đã tiếp thu có phê phán triết học Hêghen và CNDV Phoiơbac. Đối với Hêghen trong “Bộ tư bản”, Mác đã viết: ". Ở ông PBC lộn ngược xuống đất, chỉ cần dựng ngược nó lại sẽ cảm thấy được bộ mặt hoàn toàn có lý của nó” [15, tr.Mác tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn. Do vậy, bản chất PBC của Mác cao hơn về chất so với PBC của Hêghen, ông nói: “Phương 5 pháp biện chứng của tôi không những khác PBC của Hê ghen mà còn đối lập hẳn với phương pháp ẩy nữa.

Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt ra cho cái tên là “ỷ niệm ” và biến nó thành một chủ thể độc lập, chính là Chúa sảng tạo ra giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của giới hiện thực mà thôi. Trải lại, theo tôi thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh trong sự vận động hiện thực, di chuyển biến hình trong đầu óc của con người” [15, tr. Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác mang giá trị to lớn, đó là tính phê phán đối với mọi quan điểm sai lầm, những quan điểm siêu hình, chủ nghĩa triết chung, phản động. Một trong những kẻ xuyên tạc chủ nghĩa Mác là Đuy rinh - Giáo sư môn cơ học người Đức, nhà triết học kinh tế học Ăngghen đã phản đối kịch liệt quan niệm của Đuy rinh trong cuốn sách “Chống Đuyrinh”.

Trong tác phẩm này Ăngghen đã đưa ra định nghĩa nghĩa hoàn chỉnh về PBC: “PBC chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật pho biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy” [23, tr. PBCDV tiếp tục được Lênin đã phát triển thêm trên cơ sở kế thừa học thuyết của C.Ănghen về phép biện chứng và chỉ rõ: “Có thể định nghĩa vắn tắt về phép biện chứng là sự thống nhất của các mặt đổi lập. Như thế người ta sẽ nắm rõ được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm” [26, tr. Như vậy, đến C.I Lênin thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong PBC ấy.

Chính vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của PBC chất phác thời cổ đại và những thiếu xót của PBC duy tâm thời cận đại. Nó đã khái quát những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới. PBC duy vật trở thành một môn khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn bị nhất của lịch sử PBC. PBC duy vật được xây dựng trên cơ sở hệ thống những nguyên lý (nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến) những cặp phạm trù cơ bản (6 cặp phạm trù: cái riêng - cái chung; nguyên nhân và kết quả; tất nhiên 6 và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; bản chất và hiện tượng; khả năng và hiện thực) những quy luật (quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; quy luật phủ định của phủ định).

Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất trong phép biện chứng duy vật. Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. * Khái niệm về mối liên hệ phổ biến Ngay từ khi sinh ra con người luôn luôn có nhu cầu tất yếu đó là khám phá, chinh phục và cải tạo tự nhiên. Do đó trong hoạt động thực tiễn của mình con người cần đặt ra các câu hỏi như: Thứ nhất'.

Các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới có mối quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Thứ hai'. Nếu chúng có mối quan hệ qua lại thì cái gì đã quy định mối liên hệ đó? Trong lịch sử triết học, để trả lời câu hỏi đó có rất nhiều quan điểm khác nhau. Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng: các sự vật và hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau.

Nếu giữa chúng có sự quy định chỉ là sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là sự quy định bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Tuy vậy trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng các sự vật và hiện tượng có mối quan hệ và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau. Chẳng hạn: “Giới vô cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lập, không thâm nhập lẫn nhau. Tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động” [9, tr.

7 Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng cho rằng: các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa gián đoạn, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Chẳng hạn, sự gia tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp tới kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế. không chỉ trong một nước mà trên toàn thế giới. Môi trường ảnh hưởng to lớn đến con người, đúng hon là hoạt động của con người và hoạt động của con người đến lượt nó cũng tác động trở lại to lớn đến sự biến đổi của môi trường.

Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: Cái quyết định mối liên hệ sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật và hiện tượng là một lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người (đại biểu là Platon). Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Beccơli cho rằng: cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Hêghen xuất phát từ lập trường duy tâm khách quan vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng.

Các sự vật hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất - thế giới vật chất. Nhờ có tính thống nhất nên chúng không tồn tại biệt lập nhau mà trong sự tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau theo những quan hệ xác định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật.hiện tượng hay giữa các mặt của sự vật, của một hiện tượng trong thế giới [ 14, tr. 183] Các sự vật hiện tượng trong thế giới biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng với sự vật, hiện tượng khác.

Đối với con người, chúng ta chỉ có thể khẳng định mình bằng cách thông qua mối liên hệ với cá nhân khác tồn tại với tư cách là nhóm xã 8 hội khác nhau như gia đình, nhà trường và xã hội. * Các tính chất của mối liên hệ Theo quan điểm duy vật biện chứng mối liên hệ có các tính chất sau: - Tính khách quan Có thể khẳng định: Mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là khách quan vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ