Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 1. Khái lược về triết học và khoa học 1. Triết học và triết học Mác- Lênin Triết học là một hình thái ý thức xã hội cổ xưa của nhân loại với lịch sử hình thành và phát triển trên 2500 năm. Triết học là kết quả của nhận thức nhưng nó không xuất hiện đồng thời với thời điểm nhận thức ban đầu của con người.
Trước khi triết học xuất hiện, nhận thức của nhân loại được biểu hiện ở thế giới quan huyền thoại và thế giới quan tôn giáo. Trong các loại hình thế giới quan tiền triết học này, yếu tố người và thần, thực và ảo, phàm và thiêng xen lẫn vào nhau; mang nặng tính trực quan, tự phát, giản đơn, rời rạc nên chưa phải là triết học. Triết học chỉ ra đời ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử khi xuất hiện 2 điều kiện: (1) Điều kiện nhận thức- con người đã có một vốn tri thức nhất định và tư duy của họ đã có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa; (2) Điều kiện xã hội- xuất hiện sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc, tương ứng với xã hội có sự phân hóa giai cấp rõ rệt. Thuật ngữ “triết học” (được đề cập lần đầu bởi phái Socrates) và “triết gia” (được đề cập lần đầu bởi Heraclitius) đã xuất hiện rất sớm trong nền triết học Hi Lạp cổ đại, nhưng định nghĩa “triết học” lại rất phức tạp và thiếu sự thống nhất.
Bởi vì, mỗi triết gia thường đưa ra một quan niệm khác nhau về triết học, tương ứng với một đối tượng nghiên cứu trong triết thuyết của mình. Tính phức tạp của định nghĩa “triết học” còn bắt nguồn từ những khác biệt về đặc điểm tư duy của mỗi cộng đồng người hay mỗi cá nhân trong các giai đoạn lịch sử xã hội. Từ những tham chiếu khác nhau mà vấn đề thừa nhận một thuyết hay các tư tưởng nào đó có phải là một triết thuyết hay những tư tưởng triết học hay không lại có sự khác biệt nhất định. Ở những nền văn minh lớn của nhân loại (Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp), triết học đã xuất hiện vào khoảng thời gian từ thế kỷ VII- V tr.CN với những trường phái, triết gia, triết thuyến điển hình.
Từ thời cổ đại, truyền thống văn hóa phương Tây đã dần coi triết học là một loại tri thức nền tảng không thể thiếu đối với mọi tư duy duy lý, đặc biệt là tư duy khoa học. Tuy nhiên, văn hóa phương Tây hầu như không coi triết học là khoa học giống như toán học, vật lý học, kinh tế học hay xã hội học,. Trong quan niệm phương Tây, triết học không phải là khoa học thực chứng mà là một loại hình thế giới quan và phương pháp luận giải thích nguyên nhân và dẫn đường. “Ở phương Tây, triết học được coi là một 13 hình thái ý thức xã hội, tức là một loại hình tri thức đặc thù, dẫn dắt toàn bộ tư duy và hành động, thiết yếu và quan trọng như tôn giáo, chứa đựng vô vàn tri thức đã và chưa được kiểm chứng” [21].
Nhìn chung, sau hơn 2500 tồn tại và phát triển, khái niệm về triết học được hiểu không giống nhau, đối tượng nghiên cứu của triết học cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Trong quan niệm của Mác- Ăngghen, triết học được hiểu theo các khía cạnh: (1) một hình thái ý thức xã hội; (2) nhìn nhận trong tính toàn vẹn về thế giới, con người và vị trí của con người trong thế giới; (3) khách thể khám phá là thế giới; (4) giải thích các sự vật, hiện tượng, các quan hệ, quá trình của thế giới để tìm ra những quy luật phổ biến nhất chi phối sự vận động của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy); (5) tri thức triết học mang tính hệ thống, toàn diện, logic và trừu tượng về thế giới; (6) là hạt nhân của thế giới quan. Nhìn chung, triết học (nhìn từ tham chiếu của triết học Triết học Mác- Lênin) được hiều là hệ thống quan điểm lí luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Triết học là tinh hoa về mặt tinh thần của mỗi thời đại và linh hồn sống của văn hóa.
Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lí luận. Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi triết học dựa trên cơ sở tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học. Không phải mọi triết học đều là khoa học nhưng các học thuyết triết học đều có đóng góp nhất định cho sự hình thành tri thức khoa học trong lịch sử. Trình độ khoa học của một học thuyết triết học phụ thuộc vào sự phát triển của đối tượng nghiên cứu, hệ thống tri thức và hệ thống phương pháp nghiên cứu.
Sự xuất hiện của triết học Mác- Lênin vào những năm 40 của thế kỷ XIX là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học. Đó là kết quả tất yếu của lịch sử phát triển tư tưởng triết học và khoa học của nhân loại, trong sự phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế- xã hội, mà trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Đó cũng là kết quả của sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của C. Triết học Mác- Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy; là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Khoa học và phân loại khoa học Khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt được phát sinh trong thời kỳ chuyển biến từ xã hội Cộng sản nguyên thủy sang xã hội Chiếm hữu nô lệ gắn với quá 14 trình phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao động trí óc. Khoa học ra đời sớm trong lịch sử, nhưng từ khi xuất hiện đến nay, các quan niệm về khoa học và sự phân loại khoa học rất khác nhau. Lịch sử triết học khoa học cho thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về bản chất và phân loại khoa học. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung khoa học có một số đặc trưng sau: Thứ nhất, khoa học là một hệ thống tri thức phản ánh bản chất, thực thể của giới tự nhiên, nhưng đồng thời lại ở bên ngoài giới tự nhiên.
Đối tượng của khoa học là các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy. Thứ hai, hệ thống tri thức được coi là khoa học bao gồm toàn bộ những hiểu biết cụ thể và đa dạng của con người về thế giới. Tri thức khoa học bao gồm các khái niệm, các phạm trù, các quy luật được tập hợp theo một phương pháp chung, thống nhất thành một chỉnh thể. Thứ ba, hệ thống tri thức được khẳng định là khoa học phải là những tri thức đúng đắn, chân thực.
Nghĩa là, các tri thức khoa học phản ánh đúng đắn những hình thái vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy. Những tri thức ấy khái quát từ thực tiễn và luôn được thực tiễn kiểm nghiệm tính chân thực. Từ những thuộc tính trên, chúng ta có thể khẳng định: khoa học là một hệ thống tri thức chân thực phản ánh dưới dạng trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.
Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học, lịch sử học, kinh tế học, toán học, vật lý học, sinh vật học,… Trong lịch sử phát triển của khoa học đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về phân loại khoa học. Dưới đây, chúng tôi đề cập khái quát một số cách phân loại khoa học cơ bản nhất: 1/ S. Simon phân loại khoa học dựa trên nguyên tắc về sự “phối hợp các khoa học lại với nhau”.
Từ đó, ông xếp khoa học này cạnh khoa học khác tạo thành một dãy có tính chất hình thức: Toán học/Cơ học/Vật lý học/Hóa học/Sinh vật học/Xã hội học, (“/” tượng trưng cho sự cô lập, gián đoạn giữa các khoa học). Như vậy, sự phận loại này có yếu tố phù hợp về logic hình thức (các thành phần phân chia loại trừ nhau). Tuy nhiên, sự phân loại của Simon không chính xác vì nó được xây dựng theo một nguyên 15 tắc trái với sự thật khi thừa nhận ranh giới nghiêm ngặt giữa các khoa học, chưa thấy được sự xâm nhập và tác động lẫn nhau giữa các khoa học.Hegel phân loại khoa học dựa theo nguyên tắc của sự chuyển hóa biện chứng. Ông sắp xếp các khoa học theo sự biến đổi, chuyển hóa từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, loại sau ra đời từ loại trước và bao hàm loại trước.
Hegel chia khoa học thành các lĩnh vực: Cơ. Tuy nhiên, sự chuyển hóa mà Hegel coi là một nguyên tắc để phân loại khoa học chỉ là sự chuyển hóa của tư duy hay ý niệm áp đặt vào chứ không phải là sự chuyển hóa tự thân, không phải sự chuyển hóa của bản thân sự vật, hiện tượng khách quan. 3/ Ăngghen phê phán những hạn chế trong quan điểm của Simon và Hegel về sự phân loại khoa học, đồng thời khẳng định nguyên tắc về tính khách quan và sự phát triển trong việc phân loại khoa học. Trên cơ sơ phân chia các hình thức vận động của thế giới vật chất từ thấp đến cao, Ăngghen nêu ra và giải quyết vấn đề mối liên hệ và sự phân loại giữa các ngành khoa học.
Theo đó, các dạng vận động của thế giới tự nhiên (cơ-lý-hóa-sinh) do bốn khoa học nghiên cứu là: Cơ học, vật lý học, hoá học và sinh vật học.