Chương 1: Lý luận chung về công tác dân vận của Đảng Chương 2: Thực trạng công tác dân vận của Đảng bộ huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân vận của Đảng bộ huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 11 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ẢNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân vận Khái niệm dân vận được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa thông thường, dân vận là hoạt động tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân và tổ chức các phong trào thi đua trong nhân dân.
Đó vừa là một hoạt động xã hội, vừa là công việc thực tế hàng ngày của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang…[42, tr. Theo Từ điển tiếng Việt: “Dân vận có nghĩa là tuyên truyền, vận động nhân dân” [44, tr. Như vậy, dân vận được hiểu là một hoạt động, bao gồm tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, hướng dẫn, tổ chức giúp đỡ nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho” [35, tr.
Chính vì thế, nên dùng cụm từ “dân vận” thay cho khái niệm về vận động quần chúng hay công tác quần chúng. Bởi dùng như vậy mới thấy hết công tác dân vận của Đảng phải tiến hành rộng lớn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Như vậy, dân vận là cách nói tắt của vận đông nhân dân, gắn với chủ thể làm dân vận là tổ chức, cá nhân thông qua nhiều hình thức, biện pháp cụ 12 thể như tuyên truyền, giải thích, động viên, hướng dẫn, làm gương. để vận động người dân ủng hộ, đồng thuận, tham gia thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hệ thống chính trị, những công việc cụ thể mà Đảng và Nhà nước đặt ra hay một tổ chức hoặc đoàn thể phát động cho những mục tiêu chung.
Khái niệm dân vận rộng hơn khái niệm vận động quần chúng, vì dân vận được tiến hành với tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; với quần chúng ngoài Đảng và cả đảng viên trong Đảng. Dân vận bao gồm từ thông tin, tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, hướng dẫn đến tổ chức nhân dân thực hiện những công việc cách mạng hàng ngày. Mục đích của dân vận là làm cho người dân hiểu, đồng tình, hăng hái tham gia thực hiện đường lối, chủ trương, nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Dân vận phải hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [33, tr.
Dân vận là thước đo của một xã hội phát triển, một nhà nước pháp quyền, một nền dân chủ và một hệ thống chính trị đổi mới. Dân vận góp phần quan trọng trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy dân chủ, là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân; giữa nhân dân với Đảng, chính quyền. Khái niệm công tác dân vận Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác dân vận là vận động nhân dân làm cách mạng.
Toàn Đảng phải làm công tác dân vận, phụ 13 trách công tác dân vận và chịu trách nhiệm cao nhất đối với công tác này, bởi Đảng có trọng trách lãnh đạo và cầm quyền. Người nhấn mạnh, công tác dân vận không phải là nhiệm vụ của riêng một cá nhân cán bộ, đảng viên hay tổ chức nào. Nghĩa là, mọi cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đều phải có trách nhiệm, thường xuyên làm công tác dân vận [13]. Trong giai đoạn hiện nay, quan điểm về công tác dân vận tiếp tục được Đảng ta thể hiện tập trung, đầy đủ ở các chỉ thị, nghị quyết, nhất là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa XI về Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới Trong đó nêu rõ: “Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang.
Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu, nòng cốt” [5, tr. Từ những quan điểm trên có thể thấy, công tác dân vận là toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị trong việc vận động, thuyết phục, tập hợp, hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân trên cơ sở lợi ích chung, đồng thuận về nhận thức và hành động nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện Đảng cầm quyền xây dựng chủ nghĩa xã hội, mối liên hệ đó được thể hiện bằng đường lối, chính sách của Đảng và việc thực hiện đường lối chính sách đó thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; thông qua các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội và tổ chức Đảng. Mối liên hệ giữa Đảng và nhân dân là một tất yếu khách quan để giành thắng lợi của cách mạng.
Công tác dân vận trong tình hình mới phải phát huy sức 14 mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo động lực để nhân dân đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, công tác dân vận phải tập hợp được quần chúng nhân dân thành lực lượng xã hội rộng rãi tham gia các phong trào yêu nước theo tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”. Công tác dân vận không thuần túy chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là một khoa học, một nghệ thuật để cho những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với dân, làm cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, từ đó hăng hái, tự nguyện, tự giác tham gia. Theo đó, một số nội dung quan trọng, nhất thiết phải được tiến hành trong công tác dân vận, đó là: Phải giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương; phải thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên và tổ chức toàn dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của cách mạng.
Khái niệm công tác dân vận của Đảng Có thể nhận thấy, dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả công tác dân vận; thường xuyên quán triệt và thực hiện phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân. 15 Như vậy, công tác dân vận của Đảng là toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tập hợp, hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các phong trào để nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cấp ủy, chính quyền địa phương và để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Chủ thể, đối tƣợng, nội dung và phƣơng thức trong công tác dân vận của ảng 1. Chủ thể công tác dân vận của Đảng Chủ thể công tác dân vận của Đảng trong giới hạn đề án là Đảng bộ huyện (trong đó lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp là huyện ủy). Công tác dân vận trước hết là trách nhiệm của Đảng, là nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Đảng vừa là người lãnh đạo cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội tiến hành công tác dân vận, vừa là lực lượng trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân.
Các tổ chức đảng từ Trung ương đến chi bộ phải lấy công tác vận động và chăm lo lợi ích hợp pháp, chính đáng của quần chúng làm nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình, đồng thời, phát huy quyền làm chủ, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Bên cạnh đó, để thể chế hóa các chủ trương, nhiệm vụ về công tác dân vận của Đảng, Ban Dân vận và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng có vai trò như sau: * Ban Dân vận Là cơ quan tham mưu, giúp việc huyện ủy, trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ, thường trực huyện ủy về công tác dân vận (bao gồm cả công tác dân tộc, tôn giáo) của huyện ủy. 16 Nhiệm vụ của Ban là nghiên cứu, đề xuất và thực hiện những chủ trương, giải pháp về công tác dân vận của huyện ủy. Chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị nghị quyết đại hội, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế, chương trình, kế hoạch, kết luận của huyện ủy, ban thường vụ huyện ủy về công tác dân vận.