Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VE KỸ NANG TO CHỨC THUC HIEN QUYET ĐỊNH QUAN LY CUA CHỦ TỊCH UY BAN NHAN DAN XA, PHUONG 1. CAC NGHIEN CUU VE QUAN LY VA HOAT DONG TO CHUC THUC HIỆN QUYET ĐỊNH QUAN LÝ 1. Nghiên cứu về quan lý và hoạt động tô chức thực hiện quyết định quản lý ở nước ngoài. Nghiên cứu về hoạt động quản lý nói chung và hoạt động tô chức thực hiện QĐQL nói riêng được các nhà khoa học ở phương Tây và phương Đông cô đại quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Ở phương Đông thời cô đại, những tư tưởng quản lý của Không Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử. có ảnh hưởng mạnh cho đến tận ngày nay về các quan điểm, nguyên tắc và phương pháp quan lý xã hội. Không Tử với tư tưởng đức trị, lấy Nhân làm cốt lõi, với ba nội dung cơ ban là: quan niệm về con người, thái độ đối với con người, cách tác động đến con người để tạo nên sức mạnh thực hiện những yêu cầu của người quan lý [24, tr. Không Tử cho rang, bản chat con người là tính thiện, hạt nhân của hệ thống tư tưởng quản lý của ông là lấy dân làm gốc, đề cao vai trò của quần chúng nhân dân (Dân vi bản) [95, tr.
Khác với Không Tử, Hàn Phi Tử lại đề cao “Pháp trị” trong việc tri nước. Theo ông, thưởng, phạt là phương tiện cơ bản dé nhà vua cai trị dân. Tai năng của nhà quản trị thể hiện ở việc dùng sức, dùng trí của người khác. Ông viết: “Sức một người không địch nôi đám đông, trí một người không biết được mọi việc, dùng một người không bằng dùng cả nước.
Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua trung bình dùng hét sức của người, bậc vua cao hơn dùng hết tri của ngwoi., dùng hết tai trí của người thì vua như than” (Bát kinh), [dẫn theo 13, tr. Như vậy, Hàn Phi Tử đã nhìn thấy sức mạnh của con người, đặc biệt là sức mạnh tỉnh thần và sự hợp tác của số đông trong việc giải quyết các công việc xã hội. Ông quan niệm người quản lý phải hiểu người rồi mới giao việc, phải hết sức thận trọng khi dùng người. Ong nhắc nhở: “.
cần phải biết nghe bề tôi nói (thánh ngôn); phải khảo sát nhiều mặt (tham nghiêm) dé biết lòng bề tôi, xem lời nói của họ có giá 16 trị hay không; cuối cùng là giao chức cho họ; dùng thực tiễn dé kiểm tra thực lực của họ” [dẫn theo 13, tr. Do những lợi ích lớn lao của quản lý, từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện hàng loạt công trình về quản lý sản xuất và quản lý hành chính với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Kết quả của các công trình nghiên cứu đã dẫn đến sự ra đời của khoa học quản lý và góp phần làm cho khoa học quản lý ngày càng hoàn thiện. Người đầu tiên đi tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng tổ chức lao động một cách khoa học đó là Fredrick Taylor.
Ông đã đề ra một hệ thống nguyên lý quản lý theo khoa học và đặt nền tảng cho tổ chức lao động trong suốt nửa đầu thế kỷ XX và cho đến nay trong nhiều trường hợp người ta vẫn còn đi theo ông. Ông chủ trương 5 nguyên lý cơ bản: một là, người lãnh đạo phải đảm nhận tat cả trách nhiệm tổ chức công việc; hai là, phải dùng phương pháp khoa học để xác định phương pháp tiến hành công việc cho hiệu quả nhất; ba là, lựa chọn người giỏi nhất để thực hiện nhiệm vụ đã định; bốn là, đào tạo người công nhân làm việc có hiệu quả; năm là, giám sát kết quả của người lao động dé đảm bảo cho họ sử dụng được các phương pháp thích hợp và đạt kết quả mong muốn [dẫn theo 9, tr. Như vậy, việc cải tiến tổ chức lao động theo hệ thống Taylor là phân chia quá trình sản xuất ra từng công đoạn nhỏ, hình thành mức khoán cho từng công đoạn đó và tiền công trả tùy theo mức khoán đề kích thích công nhân và tiền lương cao mà tích cực nhận khoán. Nói cách khác, cách làm của Taylor đã đánh trúng vào tâm lý của những công nhân nghèo thời đó.
Tuy nhiên, hạn chế của Taylor ở chỗ ông coi con người như một rôbốt, chủ yếu rèn luyện thói quen, kỹ năng lao động, trong khi đó tính sáng tao và sức mạnh trí tuệ của người lao động đã không được tính tới dé phát huy. Đây cũng chính là nguyên nhân làm nảy sinh những lý thuyết mới về tổ chức và quản lý sau này. Henry Fayol là một nhà quản lý doanh nghiệp xuất sắc, ông đã đưa ra lý thuyết quản lý hành chính vào năm 1915, theo ông quản lý hành chính là dy đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Tổ chức theo quan điểm của Fayol là một trong những chức năng cơ bản của quản lý.
Ông nhấn mạnh, nguyên tắc của quản lý là không được cứng nhắc, mà phải tương đối linh hoạt và có thé đáp ứng mọi yêu cau. Lý thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol là sáng tạo, khoa học và thiết thực cho hoạt động quản lý các doanh nghiệp nửa đầu thế kỷ XX. Barnard [13], [74], [100] đã nghiên cứu về van đề ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định từ những năm 1940 trong các tác phâm như: “Tổ chức và quản lý” (1948), “Chức năng của người quản lý”. Ông đã phân tích về bản chất, vai trò của việc ra quyết định và tô chức thực hiện quyết định, các loại quyết định, lý do ra quyết định và đánh giá cao vai trò của các yếu tô tâm lý như linh cảm, trực giác, ý thức trách nhiệm, tư duy lôgíc và phi lôgíc đối với quá trình ra quyết định và tô chức thực hiện quyết định.
Tuy nhiên, Ch. Barnard chưa phân tích sâu sắc, toàn điện và đề cập đến các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. [74], [13] kế tục tư tưởng của Barnard Ch. đề nghiên cứu sâu về van đề ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
Điển hình như tác phẩm: “Hoạt động quản lý” (1947), “Khoa học mới về quyết định quản lý” (1960), “Các mô hình về hợp lý có giới hạn”. Ông đã phân tích về vai trò của việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, các loại quyết định, các yếu tố quy định việc ra quyết định của người quản lý và đưa ra mô hình ra quyết định hợp lý có giới hạn. Những nghiên cứu của Simon đã được nhiều nhà khoa học quản lý và tâm lý học quản lý của Mỹ và Nga đánh giá cao. Tuy nhiên ông chưa nghiên cứu, phân tích cụ thể, có hệ thống và cơ bản về các yếu tố tâm lý của quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
Cũng như Barnard Ch. chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hành vi trong nghiên cứu và phân tích về quản lý, ra quyết định và tổ chức thực hiện QĐQL. Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich [38] là các nhà khoa học quản ly Mỹ. Trong cuốn “Những van dé cốt yéu của quản lý” các tác giả đã chỉ ra việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả đòi hỏi một sự lựa chọn phương hướng hành động hợp ly.
Dé có thé ra quyết định và tô chức thực hiện quyết định có hiệu quả đòi hỏi người quản lý phải có những điều kiện như: hiểu biết rõ ràng về các phương án lựa chọn mà nhờ đó có thể đạt tới mục đích trong những điều kiện và những hạn chế hiện có; có thông tin và năng lực phân tích, đánh giá các phương án theo mục đích đang theo đuôi và phải có hoài bão dé đi tới giải pháp tốt nhất bằng cách thỏa mãn tối đa cho việc đạt tới mục đích. trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” [34] đã phân tích một số mô hình và lý thuyết về tình huống trong nghiên cứu vấn đề lãnh đạo. Các tác giả cho rằng có 3 thành tố quan trọng của quá trình lãnh đạo đó là nhà lãnh đạo, thuộc cấp và tình huống. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa 18 các biến số này, các tác giả cho răng để lãnh đạo có hiệu quả đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có kỹ năng cần thiết như kỹ năng ứng xử linh hoạt, kỹ năng chan đoán phong cách lãnh đạo phù hợp với tình huống.
Như vậy, điểm chung của các nhà khoa học quản lý Mỹ, Pháp là phân tích về quản lý nói chung, ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định nói riêng đều dựa trên quan điểm của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hành vi, những yếu tố tâm lý tác động tới quá trình tổ chức thực hiện QĐQL chưa được phân tích một cách toàn diện và có hệ thống. Ở Nhật Bản, các nhà khoa học quản lý như Sakaue, Uwayaki, Konosuke cũng đã có những công trình nghiên cứu sâu về hoạt động quản lý trong kinh doanh. Sakaue cho rằng, để thành công cần phải tích cực tăng cường thống nhất ba sức mạnh tinh thần đó là: ham muốn, lòng tin và sự nhiệt tình. Từ việc xác định mục tiêu đến việc lập kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu và thực hiện mục tiêu phải là một quá trình thống nhất.
Dé phát triển năng lực cần phải kết hợp phát triển đồng thời cả 3 yếu tố tâm lý đó là, tri thức, kỹ năng và thái độ [76, tr. Tác giả cho rằng mục tiêu chỉ có thé đạt được khi có sự thống nhất giữa ba yếu té là ý thức, ý chí và quan niệm lại làm một. Uwayaki, nhà nghiên cứu chiến lược kinh doanh Nhật Bản, tác giả cuốn “Bí mật của các doanh nghiệp chưa hè thất bại” đã phân tích cả từ góc độ lý luận lẫn thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp ưu tú hàng đầu của Mỹ và Nhật Bản cho thấy sự quyết đoán của nhà doanh nghiệp là mau chốt cho sự phát triển của doanh nghiệp. Yếu tố có tác động tới vận mệnh phát triển lâu dài và những thành công của các doanh nghiệp lớn của Mỹ và Nhật Bản, đó là các quyết đoán chính xác dựa trên tinh thần ngoan cường của những người chủ doanh nghiệp [92, tr.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Nhật Bản chủ yếu quan tâm nghiên cứu ứng dụng những lý thuyết quản lý và tâm lý tiến bộ, hiện đại vào cuộc sống cũng như trong lĩnh vực lãnh đạo, quan lý kinh doanh theo phương pháp tiếp cận tổng hop.