CHƯƠNG 1 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN DIỆN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ BẠC LIÊU QUẢN LÝ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đội ngũ cán bộ cấp huyện và một số vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bạc Liêu quản lý 1.1 Cấp huyện ở tỉnh Bạc Liêu và đội ngũ cán bộ cấp huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bạc Liêu quản lý * Khái quát về tỉnh Bạc liêu Bạc Liêu là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên là 2.585 km2, có bờ biển dài 56 km; Tỉnh có 7 đơn vị hành chính gồm 6 huyện và 01 thành phố; 64 xã, phường, thị trấn. Dân số khoảng 900.000 người, gồm 3 dân tộc chính: Kinh, Khmer và Hoa, trong đó, dân tộc Kinh chiếm 89,45% dân số, dân tộc Khmer chiếm 7,97% dân số, dân tộc Hoa chiếm 2,52% dân số. Dân cư tập trung đông ở các đô thị trung tâm huyện, thành phố, mật độ cao nhất là ở thành phố Bạc Liêu; dân cư phân bố không đều ở các vùng nông thôn. * Các huyện của tỉnh Bạc Liêu - Vị trí, vai trò cấp huyện.
Tỉnh Bạc Liêu có 06 huyện và 01 thành phố trực thuộc tỉnh, gồm: huyện Đông Hải, diện tích 563 km2, dân số 143.774 người; Giá Rai, có diện tích 355km2, dân số 136.826 người; Phước Long có diện tích 416 km 2, dân số 117.993 người; Vĩnh Lợi, có diện tích 251 km 2, dân số 98.025 người; Hòa Bình, có diện tích 412 km2, dân số 107.075 người và thành phố Bạc Liêu, có diện tích 175 km2, dân số 149. Cấp huyện là cấp hành chính thứ ba trong hệ thống chính trị 4 cấp ở nước ta, có vai trò quan trọng trong lãnh 11 đạo cụ thể hóa, chỉ đạo trực tiếp các xã, phường, thị trấn thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, đặc biệt là chỉ đạo phát triển toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn huyện, thành phố. Huyện là cầu nối giữa Tỉnh với cơ sở, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp đó tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh ủy Bạc Liêu. Là cấp trực tiếp quản lý, điều hành và kiểm tra công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của các ban, ngành ở huyện, các xã phường, thị trấn, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở.
Qua công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kịp thời phát hiện, xem xét, xử lý những khó khăn, bức xúc ở từng địa phương, đơn vị, hoặc kiến nghị, đề xuất với tỉnh những cơ chế, chính sách không còn phù hợp, để tỉnh xem xét, nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn và kiến nghị Trung ương. Cấp huyện, là cấp có vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý toàn diện và trực tiếp các mặt hoạt động của đời sống KT-XH của các xã, phường; các ban, ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có được cấp cơ sở trực thuộc thực hiện thành công hay không, đều phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp huyện. Tỉnh có thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hay không, lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, điều hành của đội ngũ cán bộ cấp huyện diện BTVTU Bạc Liêu quản lý.
Bởi vì, chính đội ngũ cán bộ này có vai trò quyết định lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh. Chức năng của cấp huyện: Là cấp hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành 12 Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. Quản lý hành chính theo ranh giới lãnh thổ về các hoạt động của Đảng, Nhà nước của các ngành chức năng trực thuộc và các phường, xã, thị trấn theo nhiệm vụ được Chính phủ phân cấp.
Cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chủ trương và nhiệm vụ chính trị của tỉnh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ở địa phương; lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành cấp cơ sở, các đoàn thể và toàn dân thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Cấp huyện quản lý trực tiếp và toàn diện các xã, phường, thị trấn trên địa bàn và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt của cấp tỉnh. Nhiệm vụ chủ yếu của cấp huyện: Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, kế hoạch ngân sách, tài chính hàng năm trình cấp tỉnh phê duyệt; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó; phê chuẩn kế hoạch kinh tế - xã hội của xã, thị trấn. Tổ chức triển khai, thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh và của huyện trên địa bàn mình.
Hướng dẫn chỉ đạo việc thi hành các chủ trương, chính sách, thi hành pháp luật, ban hành các quyết định, chỉ thị, nghị quyết và tổ chức thực hiện. Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật ở cơ sở; tổ chức chỉ đạo công tác thi hành án, công tác kiểm tra, thanh tra; tổ chức tiếp dân, giải quyết kịp thời những khiếu nại, tố cáo của công dân; quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. 13 Xây dựng chính quyền vững mạnh, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các tổ chức kinh tế; quản lý hành chính, quản lý công tác tổ chức biên chế lao động, tiền lương theo phân cấp của tỉnh và Chính phủ. Cấp huyện có mối quan hệ trực tiếp với tỉnh và Trung ương, là địa bàn có điều kiện kết hợp các ngành, các đơn vị kinh tế, văn hóa do Trung ương hoặc địa phương trực tiếp quản lý thành một cơ cấu kinh tế lãnh thổ nằm trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
Địa bàn cấp huyện rất thuận tiện cho việc hình thành cơ cấu kinh tế kết hợp nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong tổng thể phát triển và phân bố sản xuất theo vùng kinh tế. Cấp huyện là một cấp kế hoạch và ngân sách quan trọng, đồng thời là cấp thực hiện quản lý theo lãnh thổ kết hợp quản lý theo ngành. - Đặc điểm các huyện ở tỉnh Bạc Liêu Điều kiện tài nguyên, đất đai, khí hậu tạo cho các huyện của tỉnh Bạc Liêu luôn có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản và phát triển du lịch. Các huyện của tỉnh Bạc Liêu được chia ra 2 vùng rõ rệt, Vùng Bắc Quốc lộ 1A (có 4 huyện), đây là vùng ngọt hóa và nước lợ, là vùng chuyên canh cây lúa và rau màu.
Vùng Nam Quốc lộ 1A (có 2 huyện và thành phố) vùng nước mặn quanh năm, thuận lợi cho việc nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp, đánh bắt thủy hảy sản. Là tỉnh xa các trung tâm lớn của cả nước, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp; công nghiệp phát triển chậm, do đó việc thu hút đầu tư rất hạn chế. Thời tiết diễn ra 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến cuối tháng 11 và mùa nắng từ tháng 12 đến cuối tháng 4. Đây là điều kiện khá tốt cho việc sản xuất nông nghiệp (2 vụ lúa/năm) và đánh bắt thủy, hải sản.
Các huyện tuyến ven biển (chiều dài bờ biển 56 km) là địa bàn trọng yếu chiến lược về quốc phòng – an ninh. Hầu hết dân cư sinh sống không tập trung mà phân tán 14 do tập tục đất ở gắn liền với đất sản xuất. Đây cũng là vấn đề khó khăn trong quản lý dân cư và đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn. Bạc Liêu có trên 10% là người dân tộc thiểu số.
Người Khmer sinh sống tập trung thành vùng ở các xã của 3 huyện (Hòa Bình, Vĩnh Lợi và Hồng Dân), đa số trình độ dân trí thấp, đời sống còn nhiều khó khăn, thu nhập thấp. Người Hoa, sống tập trung ở thành phố Bạc Liêu, chủ yếu mua bán, sản xuất, đời sống khá và giàu. Nguồn lao động của các huyện ở tỉnh Bạc Liêu khá dồi dào, người dân có truyền thống đoàn kết, cần cù, hiền lành, song trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; cơ sở hạ tầng lạc hậu so với nhiều tỉnh trong khu vực, việc đi lại giao lưu, trao đổi mua bán hàng hóa còn khó khăn. * Đội ngũ cán bộ cấp huyện diện BTVTU Bạc Liêu quản lý - Khái niệm cán bộ Trong Từ điển Tiếng Việt, từ “cán bộ” được định nghĩa là: “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể.
Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [63, tr. Cho đến nay, từ “cán bộ” tuỳ theo từng tổ chức (Đảng, đoàn thể, hệ thống Nhà nước v.) đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau: Trong tổ chức đảng, đoàn thể: Từ “cán bộ” được dùng với hai nghĩa: Một là, để chỉ những người được bầu (hoặc bổ nhiệm) vào các cấp lãnh đạo, quản lý từ cơ sở đến Trung ương, để phân biệt cán bộ lãnh đạo có chức vụ với cán bộ, công chức không có chức vụ và đảng viên thường với đoàn viên, hội viên; hai là, để chỉ những người làm công tác chuyên trách, có hưởng lương trong biên chế các tổ chức Đảng, đoàn thể. Trong hệ thống Nhà nước: Từ “cán bộ” được hiểu cơ bản là trùng với từ “công chức”, chỉ những người làm việc trong cơ quan tổ chức bộ máy nhà nước ở các lĩnh vực quản lý hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hóa - xã hội.