Luận văn giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên Học viện Biên phòng

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn thạc sĩ giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên ở biên phòng hiện nay": { "ai_description": "Tìm hiểu luận văn

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn thạc sĩ giáo dục chính trị tư tưởng

Luận văn thạc sĩ giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên ở Học viện Biên phòng là nghiên cứu khoa học tập trung phân tích vai trò, phương pháp và hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng (GDCT,TT) đối với lực lượng học viên tại đơn vị quân đội này. Nội dung nghiên cứu xoay quanh các khái niệm cơ bản như GDCT,TT, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng những yêu cầu đặc thù trong môi trường quân đội. Giáo dục chính trị tư tưởng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, xây dựng bản lĩnh chiến đấu cho học viên. Luận văn kế thừa lý luận từ các chuyên gia giáo dục quân sự như PGS.TS Trần Ngọc Tuân, đồng thời khảo sát thực trạng tại Học viện Biên phòng để đề xuất giải pháp cải thiện chất lượng đào tạo. Mục tiêu cuối cùng nhằm trang bị cho học viên nhận thức vững vàng về chủ quyền quốc gia, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên giới.

1.1. Khái niệm và vai trò giáo dục chính trị tư tưởng

Giáo dục chính trị tư tưởng (GDCT,TT) là quá trình truyền đạt hệ thống quan điểm lý luận, niềm tin và giá trị cách mạng nhằm hình thành thế giới quan khoa học cho đối tượng giáo dục. Trong quân đội, GDCT,TT đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng nhân cách quân nhân, nâng cao ý thức trách nhiệm và khả năng nhận diện, đấu tranh chống quan điểm sai trái. Theo quan điểm của Lênin, tinh thần chiến đấu quyết định ưu thế trên chiến trường, do đó GDCT,TT là nền tảng nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội. Đối với học viên Học viện Biên phòng, GDCT,TT giúp họ nhận thức rõ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, củng cố niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng. Nội dung GDCT,TT bao gồm giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự và pháp luật quốc phòng.

1.2. Đặc điểm môi trường giáo dục tại Học viện Biên phòng

Học viện Biên phòng có môi trường giáo dục đặc thù khi đào tạo lực lượng chuyên trách nhiệm vụ bảo vệ biên giới, biển đảo. Đặc điểm này đòi hỏi GDCT,TT phải tích hợp kiến thức lý luận chính trị với nhiệm vụ quân sự thực tiễn, giúp học viên hiểu rõ mối liên hệ giữa lý luận và hành động. Ngoài ra, môi trường quân đội đề cao kỷ luật, tinh thần đoàn kết và sẵn sàng chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động GDCT,TT mang tính chất tập thể. Tuy nhiên, môi trường này cũng đặt ra thách thức trong việc cập nhật nhanh chóng các vấn đề chính trị xã hội mới nổi, đòi hỏi cán bộ giảng dạy phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Sự kết hợp giữa giáo dục lý luận và rèn luyện tác phong quân nhân là yếu tố then chốt tạo nên hiệu quả của GDCT,TT tại đơn vị.

II. Thực trạng giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên Biên phòng

Thực trạng GDCT,TT cho học viên Học viện Biên phòng hiện nay cho thấy những kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại những hạn chế đáng quan tâm. Theo số liệu khảo sát năm 2013-2014, 100% học viên đạt yêu cầu về nhận thức chính trị, trong đó tỷ lệ khá giỏi dao động từ 85,3% đến 86,6%. Điều này phản ánh sự nỗ lực của cán bộ giảng dạy trong việc triển khai nội dung giáo dục phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quân sự. Tuy nhiên, khảo sát cũng chỉ ra rằng một bộ phận học viên chưa nhận thức đầy đủ về các âm mưu chống phá của thế lực thù địch, đặc biệt trong bối cảnh tình hình biển Đông diễn biến phức tạp. Ngoài ra, phương pháp giảng dạy còn mang tính lý thuyết nhiều, thiếu gắn kết với thực tiễn nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Thiếu hụt nguồn tài liệu giáo dục cập nhật về chủ quyền biển đảo cũng là rào cản trong việc nâng cao chất lượng GDCT,TT. Những tồn tại này đòi hỏi sự điều chỉnh kịp thời từ phía lãnh đạo và cán bộ giáo dục.

2.1. Những kết quả đạt được trong công tác giáo dục

Công tác GDCT,TT tại Học viện Biên phòng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong giai đoạn 2013-2014. Theo báo cáo, 100% học viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba đều đạt yêu cầu về nhận thức chính trị, với tỷ lệ khá giỏi lần lượt là 85,3%, 85,8% và 86,6%. Học viên đã cơ bản nắm vững các nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng và chính sách pháp luật nhà nước. Đặc biệt, nhận thức về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo được nâng cao, thể hiện qua tinh thần cảnh giác trước các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài. Bản lĩnh chính trị của học viên cũng được củng cố, góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Những thành tựu này là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ chính trị, giảng viên và học viên trong quá trình triển khai giáo dục.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại

Bên cạnh những kết quả tích cực, công tác GDCT,TT vẫn còn tồn tại những hạn chế đáng lo ngại. Một số học viên chưa nhận thức đầy đủ về âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt trong bối cảnh tình hình biển Đông diễn biến phức tạp. Phương pháp giảng dạy còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn nhiệm vụ quân sự tại biên giới. Ngoài ra, nguồn tài liệu giáo dục về chủ quyền biển đảo chưa được cập nhật kịp thời, dẫn đến sự thiếu hụt thông tin chính xác cho học viên. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong công tác quản lý giáo dục, thiếu sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy và sự thiếu hụt nguồn lực tài chính cho việc biên soạn tài liệu. Những hạn chế này đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ phía lãnh đạo để nâng cao chất lượng GDCT,TT.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng

Để khắc phục những tồn tại trong GDCT,TT cho học viên Học viện Biên phòng, luận văn đề xuất ba nhóm giải pháp chính gồm đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ. Đầu tiên, phương pháp giảng dạy cần chuyển từ lý thuyết sang thực hành thông qua các hoạt động ngoại khóa, hội thảo chuyên đề về chủ quyền biển đảo. Thứ hai, cần đầu tư xây dựng hệ thống tài liệu giáo dục cập nhật, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn nhiệm vụ quân sự. Cuối cùng, nâng cao năng lực cán bộ giảng dạy thông qua chương trình bồi dưỡng thường xuyên, tập huấn về phương pháp sư phạm và kiến thức chuyên môn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDCT,TT, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới trong tình hình mới.

3.1. Đổi mới phương pháp giáo dục phù hợp

Đổi mới phương pháp giáo dục là giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả GDCT,TT. Thay vì chỉ giảng dạy lý thuyết, cần kết hợp giữa học tập trên lớp và thực hành thông qua các buổi thảo luận nhóm, diễn đàn trao đổi về tình hình chính trị xã hội. Việc sử dụng phương pháp tình huống, phân tích case study về các sự kiện quốc tế liên quan đến chủ quyền biển đảo sẽ giúp học viên vận dụng lý luận vào thực tiễn. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, như xây dựng kho dữ liệu điện tử về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học viên tự học. Những phương pháp này không chỉ tăng cường tính tương tác mà còn khuyến khích học viên chủ động tìm hiểu vấn đề.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giáo dục

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giáo dục là yếu tố quyết định sự thành công của GDCT,TT. Cán bộ giảng dạy cần được tham gia các khóa tập huấn thường xuyên về phương pháp sư phạm, cập nhật kiến thức chính trị và pháp luật quốc phòng. Hàng năm, Học viện Biên phòng nên tổ chức hội thi giảng dạy chính trị nhằm khuyến khích sự đổi mới và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giảng viên. Ngoài ra, việc thành lập nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lý luận chính trị cũng góp phần nâng cao chất lượng bài giảng. Đội ngũ cán bộ chính trị cần có khả năng truyền cảm hứng, tạo động lực cho học viên trong quá trình học tập. Những nỗ lực này sẽ góp phần xây dựng một đội ngũ giáo viên đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

IV. Kết luận và khuyến nghị ứng dụng thực tiễn

Luận văn đã phân tích toàn diện về GDCT,TT cho học viên Học viện Biên phòng, từ cơ sở lý luận đến thực trạng và đề xuất giải pháp cải thiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy GDCT,TT đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng bản lĩnh chính trị cho học viên, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế về phương pháp giảng dạy, nguồn tài liệu và năng lực cán bộ. Để khắc phục, luận văn đề xuất các giải pháp đồng bộ như đổi mới phương pháp giáo dục, tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên. Những khuyến nghị này không chỉ mang tính lý luận mà còn có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn đào tạo tại Học viện Biên phòng. Việc triển khai thành công các giải pháp sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDCT,TT, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình mới.

4.1. Tóm lược kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chứng minh vai trò then chốt của GDCT,TT trong việc nâng cao nhận thức chính trị cho học viên Học viện Biên phòng. Kết quả khảo sát giai đoạn 2013-2014 cho thấy 100% học viên đạt yêu cầu về nhận thức chính trị, với tỷ lệ khá giỏi trên 85%. Những thành tựu này phản ánh sự nỗ lực của cán bộ giáo dục trong việc triển khai nội dung phù hợp. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những tồn tại như phương pháp giảng dạy còn mang nặng lý thuyết, thiếu gắn kết với thực tiễn nhiệm vụ quân sự. Những hạn chế này đòi hỏi sự điều chỉnh từ phía lãnh đạo nhằm nâng cao chất lượng GDCT,TT. Kết luận rút ra rằng GDCT,TT không chỉ là nhiệm vụ quan trọng mà còn là nền tảng xây dựng sức mạnh chiến đấu cho quân đội.

4.2. Định hướng nghiên cứu và ứng dụng

Luận văn đề xuất định hướng nghiên cứu tiếp theo tập trung vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong GDCT,TT, xây dựng hệ thống tài liệu điện tử cập nhật và nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp giáo dục mới. Trong thực tiễn, Học viện Biên phòng cần ưu tiên đầu tư nguồn lực cho công tác đào tạo cán bộ giảng dạy, xây dựng môi trường học tập tích cực và khuyến khích học viên tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục. Những ứng dụng này sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDCT,TT, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đơn vị.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/05/2026
Luận văn thạc sĩ giáo dục chính trị tư tưởng cho học viên ở học viên biên phòng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO HỌC VIÊN Ở HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG HIỆN NAY 1. Những khái niệm cơ bản 1.Giáo dục chính trị, tư tưởng * Giáo dục chính trị Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các quốc gia, dân tộc, trong đó vấn đề cốt lõi là quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội, là vấn đề giành và giữ chính quyền, duy trì sử dụng quyền lực nhà nước vì lợi ích của giai cấp. Chính trị phản ánh sâu sắc lợi ích, địa vị kinh tế của giai cấp, đồng thời giữ địa vị hàng đầu đối với kinh tế, xâm nhập và chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, đa dạng và phức tạp, liên quan đến lợi ích của các giai cấp, các lực lượng xã hội.

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội trong vấn đề chính quyền; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của Nhà nước; là tổng hợp những phương pháp, phương thức hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái nhằm giáo dục, giác ngộ quần chúng tham gia vào quá 13 trình giành, giữ và điều khiển hoạt động của Nhà nước để bảo vệ lợi ích của giai cấp. Đối với quân đội, GDCT của Đảng là hoạt động bồi dưỡng CNM – LN, TTHCM, đường lối chính sách của Đảng vào một bộ phận lực lượng cách mạng đặc thù. Đó là quá trình giáo dục nhằm đem lại cho họ những hiểu biết về lý luận chính trị, những tri thức về thế giới quan khoa học, về đường lối chính sách của Đảng biến nó thành niềm tin, thành lý tưởng, thành nguyên tắc đạo đức của cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó mà nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo của họ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Vì vậy, phải tổ chức một cách chủ động, khoa học việc giáo dục chính trị, làm cho nó trở thành một khoa học và một nghệ thuật. Giáo dục chính trị trong quân đội là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của tổ chức đảng các cấp nhằm phổ biến những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội giúp họ hình thành, củng cố phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc. Nội hàm khái niệm đó chỉ rõ : “Giáo dục chính trị cho quân nhân” bao gồm toàn bộ những hoạt động của quá trình bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin cách mạng, hình thành thói quen hành vi chính trị, đạo đức cách mạng cho quân nhân. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị là giai đoạn rất quan trọng, bởi vì nhận thức là cơ sở cho việc xây dựng và củng cố niềm tin chính trị.

Thực chất giai đoạn này nhằm trang bị cho các quân nhân hệ thống tri thức chính trị. Cốt lõi của tri thức chính trị là phổ biến cho quân nhân những nguyên lý cơ bản của CNM- LN, TTHCM, nhất là các vấn đề về chiến tranh và quân đội, về xây dựng quân đội cách mạng của giai cấp công nhân; vấn đề đường lối quan điểm của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, phương 14 hướng xây dựng quân đội qua từng thời kì cách mạng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Quá trình giáo dục phải làm cho những tri thức mà các quân nhân đã lĩnh hội thấm sâu vào lý trí, nảy sinh những cảm xúc tình cảm, phát triển ý chí và hình thành những quan điểm, tư tưởng đúng đắn. Giai đoạn xây dựng niềm tin chính trị là kết quả của hiểu biết chính trị, đồng thời là tiền đề quy định hành vi và hoạt động.

Việc xây dựng niềm tin chính trị không chỉ thông qua các hoạt động nhận thức mà còn thông qua các hoạt động tình cảm và ý chí, thông qua các hoạt động của các quân nhân trong thực tiễn. Chỉ có thể xây dựng niềm tin cộng sản cho quân nhân khi đã trang bị cho họ những kiến thức chính trị vững chắc, khơi dậy ở họ những tình cảm sâu sắc và ý chí mạnh mẽ. Rèn luyện thói quen, hành vi chính trị đạo đức cho quân nhân, về thực chất là sự lặp đi, lặp lại nhiều lần những hành vi tốt đẹp, trở thành ý thức tự giác ăn sâu vào lối sống, như một nhu cầu tự nhiên của cá nhân; những thói quen đó giúp các quân nhân ứng xử một cách mau lẹ và đúng đắn trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. * Giáo dục tư tưởng Thuật ngữ " tư tưởng có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ "idea", có nghĩa là hình thức.

Cho đến nay, đã có nhiều định nghĩa tư tưởng khác nhau: tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh. Là những quan điểm, ý nghĩa phản ánh thế giới vật chất trong nhận thức con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của thế giới khách quan [43, tr. Từ điển tiếng Việt nêu khái niệm về tư tưởng gồm: 1 “Sự suy nghĩ, hoặc ý nghĩ. Thí dụ : Tập trung tư tưởng.

2 Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội (nói tổng quát) Thí dụ : Tư tưởng tiến bộ, tư tưởng phong kiến, đấu tranh tư tưởng” Khái niệm về tư tưởng có thể hiểu các khía cạnh sau : 15 Thứ nhất: Đó là sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ của cá nhân người này hoặc người khác đối với một số vấn đề, một sự kiện, một tập thể, một người nào khác. Thứ hai: Đó là quan điểm ý nghĩ của một tập thể, một giai cấp, một tầng lớp xã hội đối với một vấn đề, một sự kiện. Thí dụ : Thế hệ trẻ Việt Nam tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin yêu và kính trọng những người đi trước. Lênin coi tư tưởng là hình thức cao nhất của nhận thức, là những mục tiêu, chương trình, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan.

Theo Mác, tư tưởng phải gắn với lợi ích, tư tưởng mà không gắn với lợi ích là điều hết sức vô nghĩa. Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng đã góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền. Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và các tư tưởng thù địch phản động để làm cho ý thức xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của xã hội. Từ sự phân tích trên có thể đi đến khái niệm về tư tưởng như sau: Tư tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức con người, biểu hiện những lợi ích của con người, giai cấp về xã hội.

Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản ánh lợi ích của một con người, một tập đoàn người, một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại nhất định. Tuỳ thuộc vào trình độ và tính chất, nội dung sự phản ánh mà có tư tưởng đúng và tư tưởng sai, có tư tưởng tiến bộ và tư tưởng lạc hậu, có tư tưởng phản động kìm hãm sự phát triển của xã hội. Vì vậy, trong xã hội có giai cấp luôn luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng là đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp thống trị và hệ tư tưởng của giai cấp bị thống trị.

* Giáo dục CT,TT trong quân đội Từ điển bách khoa quân sự XôViết định nghĩa: "GDCT,TT trong các lực lượng vũ trang là hệ thống các biện pháp nhằm hình thành cho sĩ quan và 16 chiến sĩ có đủ trình độ tư tưởng và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu để giành được chiến thắng trong chiến tranh" [44, tr. Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự, do Cục Khoa học quân sự. Bộ Tổng tham mưu, QĐNDVN, xuất bản năm 1985 giải thích: "GDCT,TT, quá trình tác động liên tục, có cơ sở khoa học, có định hướng vào đối tượng được giáo dục nhằm bồi dưỡng cho họ khả năng nhận thức chính trị đúng đắn, thái độ chính trị phù hợp với quan điểm cách mạng, tinh thần kiên định đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. GDCT,TT là một nội dung cơ bản trong việc đào tạo và rèn luyện quân nhân cách mạng, được tiến hành một cách thường xuyên và có hệ thống đối với mỗi quân nhân trong suốt quá trình tại ngũ, bằng huấn luyện chính trị theo các chương trình phù hợp với từng cấp quân nhân, bằng công tác tuyên truyền và vận động chính trị và bằng sinh hoạt tập thể trong quân đội" [41, tr.

Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa : GDCT,TT trong quân đội ta là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có hệ thống của chủ thể giáo dục nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giáo dục truyền thống cách mạng của dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho cán bộ,chiến sĩ; xây dựng cho họ thế giới quan và phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần nâng cao nhận thức chính trị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do đó có thể khẳng định: Bản chất của GDCT,TT trong quân đội ta là đấu tranh tư tưởng để xác lập vị trí thống trị tuyệt đối của CNM- LN, TTHCM trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; bồi dưỡng, rèn luyện những quân nhân có thế giới quan khoa học, cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống của giai cấp công nhân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Giáo dục CT,TT là hai phạm trù khác nhau, nhưng luôn quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau; tư tưởng thống trị xã hội là nền tảng của ý thức và các tổ chức chính trị của xã hội đó. Tư tưởng mang tính tiến bộ là nền tảng vững chắc của chế độ chính trị ổn định, vững mạnh; ngược lại, 17 chính trị được xem như là nền tảng vật chất cho tư tưởng phát huy sức mạnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ