Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Huyện Lộc Bình nằm cách thành phố Lạng Sơn 24 km về phía Đông. Phía Đông huyện Lộc Bình giáp Trung Quốc; phía Tây giáp huyện Chi Lăng; phía Bắc giáp huyện Cao Lộc; phía Nam giáp huyện Đình Lập và tỉnh Bắc Giang. Sách Đồng Khánh địa dư chí ghi chép về vị trí địa lý và cương giới của châu Lộc Bình như sau: “Châu lỵ ở phía đông nam thành tỉnh, nguyên đặt ở phố Đồng Bộc tổng Đồng Bộc… Phía Nam giáp địa phận huyện Yên Bác và châu Ôn.
Phía bắc giáp địa phận núi rừng châu Ninh Minh nước Thanh. Phía đông giáp địa phận núi rừng châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên và địa phận Tư Châu nước Thanh. Phía tây giáp địa phận châu Thoát Lãng. Từ địa giới phía nam ở xã Xuân Tình lên địa giới phía Bắc ở xã Hiễu Lễ đi khoảng 1 ngày rưỡi.
Từ địa giới phía đông ở xã Tịnh Gia sang địa giới phía tây ở trang Bình Tây đi khoảng 2 ngày” [53, tr. Như vậy, có thể hình dung một cách tổng quát vị trí của châu Lộc Bình là một vùng khép kín, được bao bọc bởi những địa hình rừng núi, là một vùng đất địa đầu Tổ quốc. Tuy nằm ở vị trí biên giới, nhưng hệ thống giao thông nối liền Lộc Bình với các địa phương khác vô cùng tiện lợi, đặc biệt là quốc lộ 4B. Hệ thống giao thông của Lộc Bình xưa cũng đã sớm hình thành nên một mạng lưới dày đặc.
Đầu tiên là đường thông đến nước láng giềng Trung Quốc: “Một đường nhỏ từ châu lỵ đi về phía đông bắc, qua trang Hữu Khánh đến đồn Trĩ Mã giáp châu Tư Lăng nước Thanh, đi khoảng 1 ngày. Một đường nhỏ từ châu lỵ về phía đông bắc rồi chuyển phía tây đến trang Hoàng Lâm giáp địa phận châu Ôn, đi khoảng nửa ngày. Lại từ trang Hoàng Lâm đi qua các xã Chính Lũ, Vô Lận, Hải Yến, Cao Lâu, Suất Lễ đến giáp địa phận châu Ninh Minh nước Thanh, đi khoảng 1 ngày rưỡi” [53, tr. Ngoài ra, hệ thống đường xã nối liền các xã trong châu với các châu khác cũng khá thuận lợi: “Một đường nhỏ từ châu lỵ đi về phía đông nam đến trang Lục Thôn giáp địa phận huyện Yên Bác, đi khoảng nửa ngày.
Một đường nhỏ từ châu lỵ đi về phía nam, qua Vân Mộng, Xuân Tình đến giáp địa phận châu Ôn, đi khoảng 1 ngày. 7 c Một đường nhỏ từ châu lỵ đi về phía đông nam, qua các xã Khuất Xá, Tịnh Gia đến địa phận châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên, đi khoảng ngày rưỡi” [19, tr. Đây là những tuyến đường huyết mạch, đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với Lộc Bình trong quá trình phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa. Với hệ thống giao thông thuận tiện này đã phần nào góp sức tạo nên bối cảnh “người đi lại tấp nập buôn bán, cũng là nơi đô hội giao thông” [35, tr.
Theo sách Đại Nam nhất thống chí ghi về địa giới Lộc Bình: “Đông tây cách nhau 70 dặm, nam bắc cách nhau 34 dặm, phía đông đến địa giới châu Tiên Yên tỉnh Quảng Yên 29 dặm, phía tây đến địa giới châu Ôn và châu Thoát Lãng 41 dặm, phía nam đến địa giới nước Thanh 25 dặm” [35, tr. Theo số liệu thống kê đất đai năm 2014, Lộc Bình có tổng diện tích tự nhiên là 98.642,7ha, chiếm 11,87% diện tích của tỉnh. Huyện Lộc Bình có 29 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn (Lộc Bình, Na Dương) và 27 xã (Ái Quốc, Bằng Khánh, Đồng Bục, Đông Quan, Hiệp Hạ, Hữu Khánh, Hữu Lân, Khuất Xá, Lợi Bác, Lục Thôn, Mẫu Sơn, Minh Phát, Nam Quan, Như Khuê, Nhượng Bạn, Quan Bản, Sàn Viên, Tam Gia, Tĩnh Bắc, Tú Đoạn, Tú Mịch, Vân Mộng, Xuân Dương, Xuân Lễ, Xuân Mãn, Xuân Tình, Yên Khoái) với 286 thôn bản, khu phố. Trong đó: đất nông nghiệp là 89.355,05ha chiếm 90,58%, đất phi nông nghiệp là 7.049,37ha, chiếm 7,15%, đất chưa sử dụng là 2.
Đất đai của huyện gồm các loại sau: đất phù sa, đất ferarit đỏ vàng. Lạng Sơn có 3 con sông lớn là sông Kỳ Cùng, sông Thương và sông Lục Nam, cùng đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp phù sa hàng năm. Đây là nhóm đất trung tính có độ PH từ 6,5 đến 6,9. Đất có màu nâu tươi hay vàng nhạt, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình.
Với đặc tính lý hóa tốt, canh tác thuận lợi nên hầu hết đất phù sa được sử dụng vào trồng các cây nông nghiệp ngắn ngày như ngô, đậu tương, lạc… Đất ferarit là loại đất phổ biến hơn cả ở Lộc Bình. Đất được chia thành nhiều nhóm dựa trên cơ sở hình thành. Đất hình thành trên cơ sở mẫu chất đất phù sa cổ, có màu nâu vàng, tầng đất dày, thành phần cơ giới của đất là cát pha, nghèo mùn, phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi thấp, bằng thoải, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, thích hợp cho việc trồng các loại cây lúa, khoai lang, khoai tây, rau, quả… 8 c Ngoài ra còn có đất ferarit hình thành trên đá vôi, có màu nâu đỏ, nâu vàng và đỏ nâu. Loại đất này phân bố ở các thung lũng, rãnh, lòng máng, khe…trong vùng địa hình đá vôi, được người dân khai phá sớm và sử dụng trong việc trồng đỗ, mía và các cây ăn quả dài ngày như mít, quýt, mận, mơ… Địa hình của huyện chia làm hai vùng rõ rệt: vùng núi cao chạy xung quanh huyện với các đỉnh Ma Non cao 693 m, đỉnh Khau Chu cao 745 m, đỉnh Khau Tòa cao 775 m và dãy Mẫu Sơn với độ cao trung bình là 1000 m.
Loại địa hình này có độ dốc trên 20 độ. Với dạng địa hình này chỉ thích hợp cho sử dụng vào lâm nghiệp và đồng cỏ chăn thả vì độ dốc cao và đường đi lại khó khăn, các khu vực thung lũng hẹp có thể sử dụng phát triển cây ăn quả. Vùng lòng chảo gồm có hai thị trấn: thị trấn Lộc Bình và thị trấn Na Dương cùng với các xã: Đông Quan, Quan Bản, Đồng Bục, Xuân Mãn, Bằng Khánh, Xuân Lễ, Lục Thôn, Hữu Khánh, Yên Khoái, Tú Đoạn và Khuất Xá. Vùng đồi núi thấp có độ cao trung bình 250 - 300m gồm các xã Yên Khoái, Nhượng Bạn, Vân Mộng, Quan Bản, Tú Mịch, Bằng Khánh, Xuân Lễ, Lục Thôn…vùng này có dạng địa hình đồi thoải xen bát úp.
Dạng địa hình này thích hợp cho mục đích nông lâm kết hợp, sườn đồi thoải độ dốc thấp gần nguồn nước thích hợp cho phát triển cây ăn quả. Vùng thung lũng bao gồm các xã chạy dọc theo quốc lộ 4B, một phần chạy dọc theo sông Kỳ Cùng. Đây là vùng địa hình tương đối bằng phẳng được hình thành do bồi đắp của sông Kỳ Cùng và các phụ lưu. Trên địa hình này chủ yếu trồng cây lúa nước và cây hoa màu.
Do đó cho đến nay rừng núi của Lộc Bình còn lưu giữ phần nào tính chất nguyên sinh vốn có, thể hiện rõ nét trên nhiều khoảnh rừng núi cao, nhiều khu rừng còn lưu giữ được những loại gỗ quý sến, táu, lát hoa, kháo thơm… Khí hậu của Lộc Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa mưa nóng ẩm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh, ít mưa, hanh và rét, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21 độ C, nhiệt độ cao nhất là 27 độ C. Khí hậu Lộc Bình đặc biệt là rất lạnh: “bốn mùa thường âm u, hàng năm giá rét chiếm quá một nửa, mùa xuân mùa hạ mưa nhiều, sấm chớp thường nổi; mùa thu mùa đông thường nắng, lại có gió bấc; mùa đông giá rét, nước đông, sương xuống” [35, tr.
Sách Đồng Khánh địa dư chí ghi: “Mùa thu đến tiết sương giáng thì thời tiết lạnh rét, nhiều mây mù chướng khí. Mùa đông rét đậm, có khi có băng. Ban đêm lấy thau chậu đựng nước gác lên chỗ cao ngoài trời, sáng mai thấy 9 c nước đóng băng dày đến bảy, tám phân” [53, tr. Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.350mm và phân bố không đồng đều.
Chế độ mưa ở huyện Lộc Bình phân thành 2 mùa rõ rệt: lượng mưa chủ yếu kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 và chiếm trên 76% lượng mưa cả năm. Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau rơi vào mùa khô và có lượng mưa chiếm trên 24% lượng mưa cả năm. Lượng mưa ở đây nhìn chung tương đối lớn: “Núi Công Mẫu thường có mây mù, cho nên cư dân sống ven núi thường phải chịu nhiều mưa. Ngoài ra thì khí hậu nông lịch, mưa nắng cũng bình thường như các châu huyện khác trong phủ” [53, tr.
Nguồn nước ở Lộc Bình tương đối dồi dào. Nguồn nước mặt của huyện được chi phối bởi nguồn nước của sông Kỳ Cùng và các phụ lưu của sông. Ngoài ra, trong vùng còn có nhiều hồ đập vừa và nhỏ như: Hồ Tà Keo, Bản Chành, Nà Căng; đập Khuôn Van, Nà Phừa, Kéo Lim, Tam Quan…. Mật độ sông suối của huyện là 0,88 km/km2 và ở khắp các xã trong huyện đều có các con suối lớn, nhỏ chảy quanh các triền khe, chân đồi ven theo các làng, bản, chân ruộng.
Sông Kỳ Cùng chảy theo hướng đông nam - tây bắc qua lòng chảo Lộc Bình với chiều dài 40 km được hợp thành bởi ba nhánh sông từ thượng nguồn đổ về. Nhánh thứ nhất bắt nguồn từ Bắc Xa (huyện Đình Lập) chảy qua xã Tĩnh Bắc đến bản Chu (xã Khuất Xá) rồi hợp với nhánh thứ hai. Nhánh này bắt nguồn từ Thổng Mìn (Trung Quốc) chảy về bản Thín (xã Tú Mịch). Nhánh thứ ba bắt nguồn từ xã Ái Quốc chảy qua địa phận ba xã Đông Quan, Lợi Bác vào Quan Bản về tới Pác San (Lục Thôn) gặp sông Kỳ Cùng.
Ngoài ra, huyện còn có hệ thống sông, suối dày đặc: Sông Tam dài 15 km nằm ở phía Nam của huyện, chảy qua các xã Nam Quan, Ái Quốc, Xuân Dương. Suối Bản Chuồi nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng, chảy theo hướng tây nam - đông bắc, qua các xã Hiệp Hạ, Xuân Tình, Như Khuê. Suối Mẫu Sơn nằm bên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, chảy theo hướng bắc nam qua các xã Yên Khoái, Tú Đoạn. Ngoài ra, còn có hệ thống các con suối nhỏ khác chảy từ thượng nguồn chảy qua các xã rồi từ đó chảy ra sông.
Đó là các suối: Khuổi Lầy, Khuổi Tằng, Khuổi Mặn, Khuổi Van, Bản Quang, Bản Ly, Bản Khoai, Long Đầu, Thín, Khuổi Mùng, Như Khuê, Vân Mộng.