CHƯƠNG 1: VÁN ĐÈ ANDƯƠNG VƯƠNG TRONG VIỆT NAM HỌC Ở VIỆT NAM Nghiên cứu các vấn đề An Dương Vương là một việc quan trọng trong thời các nhà sử học trung đại, bat cứ sử sách chính thống nào như Đại Việt sw lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Kham định Việt sử thông giảm cương mục đều ghi chép câu truyện và niên đại cụ thể về An Dương Vương. Thậm chí, trong những tác phẩm văn học dân gian thời Trung đại, việc An Dương Vương lập nước được xem là một sự kiện quan trọng trong lịch sử nhà nước sơ khai của Việt Nam, câu truyện ấy được người đời sau viết thành văn bản để lưu giữ và tiêu thuyết hóa, như Linh Nam chích quái nói đến câu truyện đầy đủ của An Dương Vương lập nước, giữ nước, và mất nước. Nhưng chỉ khi Thực dân Pháp vào Việt Nam, ngành Lịch sử, cũng như nền Việt Nam học, mới có những cách tiếp cận và lý thuyết khoa học. Việc nghiên cứu lịch sử mới chính thức trở thành một ngành khoa học hiện đại.
Cho nên các tư liệu nói trên, chúng tôi không xem là nghiên cứu khoa học, nó chỉ là các nguồn tư liệu gốc hay gọi là sử liệu sơ cấp. Đồng thời, đi theo tiễn trình Cải cách Mở cửa, ngành Việt Nam học cũng dần phát triển. Như chúng ta biết rằng, Việt Nam học là một khoa học liên ngành, cách tiếp cận của Việt Nam học không chỉ là sử dụng một phương pháp, mà là kết hợp với nhiều ngành khác. Vậy, trong phần dưới đây, chúng tôi sẽ sử dụng cách tiếp cận của Việt Nam học dé tiếp tục làm sâu hơn việc nghiên cứu, đánh giá các công trình nghiên cứu vấn đề An Dương Vương trong và sau thé ky XX.
Khái quát về Việt Nam học ở ViệtNam 1. Khái niệm và lý thuyết Việt Nam học Việt Nam học (Vietnamology/Vietnamologie) hay Nghiên cứu Việt Nam 17 (Vietnamese Studies/Etudes Vietnamienes) là một khoa học liên ngành nghiên cứu về đất nước, con người Việt Nam dựa trên những yếu tố cùa từng chuyên ngành như địa lí, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống, kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái. hay theo tính liên ngành của khu vực học. Mục đích của nghiên cứu trên là nhăm đem lại những hiểu biết toàn diện cùng những yếu tố đặc thù, độc đáo về đất nước và con người Việt Nam, dé phục vu cho sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng phén vinh, đồng thời tăng cường khả năng giao lưu và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Hay như học giả Trần Bạch Đằng đã phát biểu ở Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất (1998) tại Hà Nội: “Việt Nam học là ngành khoa học nghiên cứu về một vùng đất, về con người ở vùng đất ấy với tất cả mối quan hệ với thiên nhiên, với lich sử và xã hội về mọi mặt, làm nỗi rõ những đặc điểm, đặc thù của Việt Nam”.
Đó là “một môn nghiên cứu chuyên biệt về đất nước, con người Việt Nam trước hết từ tỉnh anh của một dân tộc, băng biểu trưng riêng của đất nước, con người ay đạt mức độ tac động nhất định vào bước đi của cả hành tinh” [76, tr. Tên gọi của “Việt Nam” trở thành quốc hiệu chính thức lần đầu vào năm 1804 dưới triều vua Gia Long, tồn tại đến năm 1838, khi vua Minh Mệnh đổi thành “Đại Nam”, rồi được khôi phục từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho tới nay. Tuy nhiên, theo cách tự gọi của nhân dân thì tên nước Việt Nam đã có từ lâu đời. Theo Dir dia chi (1435) của Nguyễn Trãi là có từ thời Kinh Dương Vương - Hùng Vương, cố nhiên là theo truyền thuyết và trong văn học thành văn với tác phẩm Việt Nam thé chi của Hồ Tông Thốc đời Trần.
Ngoài ra, chúng ta còn thấy khá phô biến trong thơ văn, bi kí từ thế kỷ XVI - XVII tên gọi nước Việt Nam. Điều quan trọng là không phải Việt Nam học chỉ bắt dau từ khi có quốc hiệu Việt Nam và ngành khoa học này phải thay đổi tên gọi theo quốc hiệu qua từng thời kỳ lịch sử, mà cần quan niệm và xác định là 18 xuất phát từ nước Việt Nam hiện tại, với lãnh thổ và cộng đồng cư dân của nó để ngược về quá khứ, tìm ra những quy luật nội sinh, những bản sắc văn hóa độc đáo [61, tr 19]. Việt Nam học được thai nghén từ khi một số học giả nước ngoài bắt đầu quan tâm tìm hiểu, ghi chép về đất nước, con người, văn hóa xã hội Việt Nam. Nhưng Việt Nam học với tư cách là một lĩnh vực nghiên cúu khoa học thì ra đời muộn hơn vào cuối thế kỳ XIX với những công trình nghiên cứu về Việt Nam và phát triển trong các trào lưu chung của Đông Phương học phương Tây [76, tr 20].
Hay nói cách khác, “Việt Nam học. cũng như Đông Phương học (Orientalism) hay Nghiên cứu Đông Phuong (Oriental Studies) với tu cách là các ngành khoa học thực sự chỉ được hình thành trong quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây, trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phương Tây đang tìm cách mở rộng bành trướng và chiếm đoạt các nước phương Đông” [54, tr, 72]. Thuật ngữ Việt Nam học xuất hiện trong ngôn ngữ Âu - Mĩ từ những thập niên 30 của thế kỳ XX. Người Việt Nam đã dịch và sử dụng lại một thuật ngữ khoa học về dân tộc và đất nước mình từ ngôn ngữ nước ngoài.
Điều này thoạt nghe có vẻ phi lí, song ngẫm lại cũng là hợp lí. Bởi lẽ, nhu cầu hiểu biết đất nước, con người, dia lí, lịch sử, văn hóa. Việt Nam ở nước ngoài, nhất là những quốc gia đã từng có quan hệ chặt chẽ với Việt Nam, kê cả những kẻ đi xâm lược muốn thống tri, lẫn những bạn bè muốn hợp tác cùng phát trién, trong nhiều trường hợp, còn bức xúc hơn cả chính người Việt Nam. Vì những nước này muốn đạt hiệu quả cao trong quá trình xâm lược nô dịch hay hợp tác hữu nghị trước đây, cũng như trong quan hệ hợp tác giao lưu quốc tế hiện nay, họ không thé không hiểu biết và nam vững thật nhiều thông tin về đất nước và con người Việt Nam [76.
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu của ngành Việt Nam học là các bộ môn chủ yêu thuộc khoa học nhân văn và khoa học xã hội, cùng những vân đê xã 19 hội lớn lao trong thời đại toàn cầu hóa, với tư cách là một chỉnh thê độc lập, Việt Nam cần được xem xét từ hai bình diện trong mối quan hệ giữa không gian và thời gian, giữa đồng đại và lịch đại. Bởi vậy, ngành Việt Nam học phải lựa chọn cho mình một hệ thống phương pháp tiếp cận thích hợp. Đó là phương pháp của ngành Khu vực hoc (Area Studies), trong đó, “Khu vực là một không gian có đặc trưng riêng. Các lĩnh vực khoa học đã chia toàn cầu ra những không gian như nước, môi trường, địa hình, khí hậu, dân tộc.
Khu vực là không gian tong hợp của các yếu tố dé tạo thành một tinh đặc trưng” [65, tr. Nói về Khu vực học là phải đề cập tới khái niệm không gian, nhưng là không gian tong thé, giải thích đồng thời các thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội, gia đình, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán. trên một không gian địa lí môi trường, với những tương tác của con người với tự nhiên và xã hội trong quá trình lịch sử dai lâu [76, tr 25]. Như vay, Khu vực học là một ngành khoa học nghiên cứu về không gian văn hóa được phân bố trên bản đồ và được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một cộng đồng văn hóa các quốc gia dân tộc vốn có chung cội nguồn, có chung số phận lịch sử, chung nhu cầu và nguyện vọng liên kết để cùng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện đại.
Những mỗi quan hệ, những ràng buộc trong khu vực xác định không gian sinh thái, là sợi dây gắn bó thiết lập nên cơ chế vận hành của cả khu vực. Khu vực học sử dụng các phương pháp nghiên cứu như nghiên cứu thực địa (Field-work); nghiên cứu liên ngành, bao gồm Đa ngành (Multidiscipline), Hợp tác các ngành (Transdiscipline) và Liên ngành (Interdiscipline); va nghiên cứu quốc tế. Tóm lại, như Giáo sư Sakurai Yumio đã tổng kết: Khu vực học là khoa học cho Khu vực; Chủ đề của Khu vực học được khu vực quyết định cho khu vực chứ không phải lĩnh vực quyết định cho lĩnh vực; Phương pháp Khu vực học quan trọng nhất là tiếp xúc trực tiếp với môi 20 trường tự nhiên và con người trong khu vực; Khu vực học là một lĩnh vực khoa hoc tổng hợp các lĩnh vực chuyên môn có quan hệ với khu vực [61, tr. Như vậy, Việt Nam học phải lựa chọn cho mình một hệ thống phương pháp thích hợp.
Ngày nay, với thành tựu của khoa học hiện đại, người ta dùng quan điểm tông thé với phương pháp tiếp cận liên ngành, đa ngành trong khuynh hướng tư duy tông hop và kiến thức đồng bộ. Đó là ưu thế của lí thuyết hệ thống hiện đại. Điều này cho phép từng bước nhận thức ngày càng sâu đối tượng Việt Nam học như một chỉnh thể, trong đó môn Lịch sử - thời gian được dùng làm khung phân tích. Dia lí nhân văn được xem là môi trường sinh thái - không gian; Kinh tế - chính trị được xem là những thiết chế, cùng với các bộ môn Văn hóa học là những hệ thống minh giải khác nhau, tạo thành hệ quy chiếu phản ánh và minh định thực tại.
Hệ thống phương pháp tiếp cận này cho phép người nghiên cứu có thê phát hiện những quy luật vận động và phát triển từ quá khứ đến hiện đại của các khu vực và của từng nước thành viên trong đó có Việt Nam. Đồng thời, từ góc độ Việt Nam có thé nhìn vào cục diện Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới để phát hiện những mối quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia, giữa các vấn đề bộ phận và toàn cục theo cách nhìn, cách đánh giá của người Việt Nam [61, tr 25]. Với cách tiếp cận này, ta có thể từ hiện tại nhận thức sâu hơn về quá khứ, dự báo chiều hướng phát triển cho tương lai theo lối tư duy đối lập, đồng thời góp phần vào cách nhìn khu vực, trong đó có Việt Nam, bằng cảm thức riêng của người Việt Nam.