mở đầu cho những câu hỏi về thể chế Kitô giáo trên quy mô rộng lớn. Anh quốc dưới thời Victoria là một quốc gia rất sùng đạo. Một số lượng lớn người thường xuyên đến nhà thờ ít nhất một lần và là hai lần vào mỗi Chủ Nhật. Kinh Thánh là được đọc thường xuyên và rộng rãi bởi mọi tầng lớp.
Tuy nhiên, vào cuối triều đại của Nữ hoàng Victoria, các tổ chức tôn giáo ở Anh bắt đầu tăng chậm lại vì nhiều lý do khác nhau.Trong văn học và các môn nghệ thuật khác, thời đại Victoria đã cố gắng kết hợp Chủ nghĩa lãng mạn nhấn mạnh tính cá nhân, cảm xúc, và trí tưởng tượng kết hợp với Chủ nghĩa tân cổ điển về vai trò của công chúng đối với nghệ thuật và trách nhiệm của người nghệ sĩ với những tác phẩm của mình. Trong tư tưởng, chính trị, và xã hội, thời đại Victoria đã tạo ra những sự đổi mới và thay đổi đáng kinh ngạc: dân chủ, chủ nghĩa nữ quyền, tổ chức công đoàn của công nhân, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác, và các phong trào hiện đại khác đã cho ra đời những hình thức tồn tại đầu tiên. Trong thực tế, thời đại của Darwin, Marx, Freud đã không chỉ lần đầu tiên đề cập đến những vấn đề mà thế giới hiện đại đang trải quan mà thời đại đó còn tiếp cận được những lời giải đáp tiên tiến nhất cho những vấn đề đó. Nói một cách khác, thời đại Victoria có thể được coi như là cái nôi của thời kỳ hiện đại – và cũng giống như hầu hết mọi giai đoạn làm mầm mống, thời đại đó luôn tồn tại trong lòng nó những phản ứng mạnh mẽ chống lại chính nó.
Thời đại Victoria không phải là chỉ nói đến một giai đoạn duy nhất, bởi vì Victoria là triều đại kéo dài quá lâu mà nó bao gồm nhiều giai đoạn. Trên tất cả, nó là thời đại của những nghịch lý và sức mạnh thời đại. Phong trào Tin Lành, sự nổi lên của chủ nghĩa Vị Lợi, chủ nghĩa xã hội, học thuyết Darwin, và thuyết bất khả tri khoa học, tất cả trong cách riêng của nó đều có những đặc trưng của thời đại Victoria. Tiền đề lý luận Trong tư tưởng của J.
Mill, chúng ta có thể tìm thấy nhiều nhà tư tưởng đã ảnh hưởng đến ông. Trong cuốn Tự truyện (1873) J. Mill đã đề cập đến các nhà tư tưởng như: Plato, Aristoteles, Epicurus, Aquinas, Thomas Hobbes, John Locke, J.Bentham, Francis Place, James Mill, Adam Smith, David Ricardo, Alexis de Tocqueville, Von Humboldt, Goethe, Samuel Coleridge, Saint-Simon, Auguste Comte… Nhưng khi nói về tiền đề lý luận dẫn đến hình thành triết học J. Mill, luận văn chỉ giới hạn trình bày những tiền đề lý luận trực tiếp Những tiền bối trực tiếp tác động trực tiếp đến tư tưởng của J.S Mill là các nhà triết học phái duy nghiệm Anh, người cha James Mill, nhà kinh tế học D.
Ricardo, nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng Saint-Simon, nhà xã hội học Auguste Comte, nhà chính trị học Alexis de Tocqueville. Đặc biệt, về đạo đức học, J. Mill chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhà đạo đức học J. Chúng ta có thể nhận xét ngay rằng tư tưởng của J.
Mill nằm trong truyền thống thuyết duy nghiệm Anh, với một loạt các triết gia lớn Francis Bacon, John Locke, Gerorge Berkeley, và David Hume. Thuyết duy nghiệm là lý thuyết cho rằng kinh nghiệm chứ không phải lý tính là nguồn gốc của nhận thức, và theo nghĩa này nó đối lập lại với thuyết duy lý. Nói rằng chúng ta đã học được gì đó từ kinh nghiệm tức là nói rằng chúng ta đã đi đến chỗ biết về nó bằng cách sử dụng các giác quan của chúng ta. Nói rằng kinh nghiệm là nguồn gốc của nhận thức tức là nhận thức phụ thuộc tối hậu vào sự sử dụng các giác quan và vào những gì được phát hiện thông qua chúng.
Kinh nghiệm của cảm giác có thể là thiết yếu để có được kinh nghiệm. Triết gia phái duy nghiệm Anh sớm nhất là Francis Bacon cho rằng trong các nỗ lực tìm hiểu tự nhiên của chúng ta: “Con người là một tác nhân và người lý giải tự nhiên; họ hoạt động và hiểu chỉ trong chừng mực họ quan sát trật tự của tự nhiên trong thực tế hay bằng suy luận; ngoài ra họ không thể biết gì hơn nữa”3. Kinh nghiệm trực tiếp là nền tảng cho việc có được nhận thức, và lập trường này được biết đến như là thuyết duy nghiệm. Trong suốt nửa đầu thế kỷ XVIII, ba triết gia lớn – J.
Hume – ủng hộ lối tiếp cận này. Tư tưởng của các ông đã được J. Mill tiếp thu, kế thừa ở nhiều nội dung khác nhau. Đầu tiên là phải kể đến triết gia quan trọng của thuyết duy nghiệm Anh là John Locke (1632–1704).
Ông nổi tiếng với việc đưa ra mệnh đề tâm trí con người là một tabula rasa, một “tấm bảng trắng”, theo cách nói của Locke 3 Francis Bacon (2000), New Organon, Lisa Jardine (translator), Michael Silverthorne, Cambridge University Press, p 33 là “giấy trắng” [white paper], trên đó các kinh nghiệm được rút ra từ các ấn tưởng của giác quan khi cuộc sống của một người được viết ra. Có hai nguồn gốc của các ý niệm của chúng ta: các cảm giác và sự phản tư. Trong cả hai trường hợp, một sự phân biệt được đưa ra giữa các ý niệm giản đơn và các ý niệm phức hợp. Ý niệm đơn giản không thể được phân tích, và bị phá vỡ thành các thuộc tính hạng nhất và các thuộc tính hạng hai.
Các ý niệm đơn giản kết hợp thành các ý niệm phức hợp, phân chia thành các bản thể, các hình thái, và các tương quan. Cuốn sách quan trọng của ông là Essay Concerning Human Understanding (Luận văn về sự hiểu biết con người) trình bày một nghiên cứu khẳng định về cách thức trong đó các ý niệm của chúng ta được tạo dựng, khi giải thích rằng bằng “ý niệm” muốn nói rằng tinh thần “được áp đặt trong khi đang tư duy”4. Các ý niệm có thể hoặc là cảm giác hoặc là sự phản tư dựa trên các ý niệm về các cảm giác; ngoài không có nguồn nào khác. Các ý niệm cũng được phân loại là đơn giản và phức hợp, các ý niệm phức hợp được tạo nên từ các ý niệm đơn giản.
Tinh thần có một sự tự do nào đó trong tiến trình này, vốn có thể dẫn đến sai lầm. Trong quan điểm của ông tất cả các chất liệu cho nhận thức được tri giác của giác quan cung cấp, nhưng phạm vi và sự xác tín của nhận thức cảm tính bị giới hạn, trong khi trái lại, có nhận thức không nằm trong kinh nghiệm, tức là tiên nghiệm về các sự vật không được cảm giác. Về đạo đức học, trong cuốn Hai khảo luận về chính quyền (Two Treatises of Government, 1689), J. Locke đồng nhất đạo đức với các kết quả của khế ước giữa các tác nhân tính toán tư lợi vốn cần một tập hợp các quy tắc để kiểm soát các tương tác của họ nhau.
Mill đồng ý rằng các hành động của con người phải tuân theo một nguyên tắc chung nhất, vốn chi phối 4 is applied about whilst thinking hành động của con người với nhau, là nguyên tắc công lợi. Mill không đồng ý với quan điểm của J. Locke rằng con người chỉ bị chi phối bởi lợi ích tư lợi của riêng mình, và đạo đức giữa các cá nhân cũng không phải là khế ước. Mill quan hệ đạo đức giữa các cá nhân còn là sự tương tác trợ giúp lẫn nhau.
George Berkeley (1685 – 1753) nhà duy nghiệm thứ hai của nước Anh, là ông tổ của chủ nghĩa duy tâm chủ quan hiện đại, ông nổi tiếng với câu “tồn tại nghĩa là được tri giác” cũng đã ảnh hưởng đến tư tưởng của J. Mục đích chính của G. Berkeley là đưa ra một quan niệm siêu hình học sẽ thể hiện danh tiếng vinh quang của Thượng đế, theo quan niệm này của ông, không có gì mà giác tính của chúng ta không thể nắm bắt, và các tri giác của chúng ta có thể được xem là một loại ngôn ngữ linh thiêng qua đó Thượng Đế giao tiếp với chúng ta; vì Thượng Đế là nguyên nhân của các tri giác của chúng ta. Bản chất của các sự vật của cảm giác là được tri giác – chúng cốt ở trong việc được tri giác và chúng không có sự hiện hữu mà không có tinh thần.
Do đó, chỉ có sự hiện hữu của các cảm giác hay các ý niệm và tinh thần vốn là nguyên nhân của chúng. Thượng Đế là nguyên nhân của các cảm giác của chúng ta, và bản thân chúng ta có thể là nguyên nhân của các ý niệm của trí tưởng tượng. Chúng ta nhận thức về mọi sự vật khác, vì sự hiện hữu của mọi sự vật khác là một chất liệu của việc được tri giác của nó. Không có gì ngoài tầm mắt của ta.
Ngay cả những đối tượng giống như hình học, vốn có thể được nghĩ là liên quan đến những nhận thức về vật chất nằm ngoài kinh nghiệm, phải bị giới hạn vào lĩnh vực này để loại bỏ những đối tượng ngoài kinh nghiệm của nhận thức. Berkeley khẳng định rằng ít nhất là có kích thước có thể tri giác được; do đó, không thể có những ý niệm về những lượng vi phân hay những điểm. George Berkeley khẳng định không có một thực tại đằng sau các tư tưởng, ông lập luận rằng những cơ sở duy nhất có thể biện minh các niềm tin về các sự vật thông thường là sự ý thức trực tiếp, hay ““… Sự vật… thật ra là những biểu tượng, mà biểu tượng thì không thể tồn tại ngoài trí óc; cho nên sự tồn tại của chúng là ở chỗ chúng được tri giác”5. Mill đồng ý với G.
Berkeley rằng mọi nhận thức đều đến từ kinh nghiệm của cảm giác nhưng ông bác thuyết duy tâm cực đoan như vậy, ông lập luận trong Một khảo cứu về triết học của ngài William Hamilton rằng các đối tượng vật chất xét như những đối tượng vĩnh cửu của cảm giác tồn tại độc lập với việc được cảm giác. Những sự vật ấy có khả năng được cảm giác, mang đến cho con người nhận thức nếu được đặt thích hợp; tuy không được cảm giác nhưng chúng là bộ phận của thế giới các hiện tượng, cảm tính. Một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng đến J. Mill là David Hume (1711 – 1776).
Dựa trên quan niệm về các chất liệu cho nhận thức của các tiền bối của mình, D. Hume cố hoàn thiện bằng các nỗ lực nhắm đến sự chính xác lớn hơn.