đặt vấn đề về tính phức tạp của bản chất chứng tỏ, ở Arixtốt, cái phô biến được xét không chỉ như thực thể bất động mà có sự vận động, trải qua nhiều thang bậc khác nhau. “Nguyên tắc sinh thành ở Arixtốt cũng là nguyên tắc phổ biến vì nó bao trùm lên cả thế giới cảm tinh lẫn thế giới eidos trong đó tính biến đổi thé hiện với tư cách sự sinh thành” [5, 123]. Tuy nhiên, vấn đề vẫn chỉ lấp ló trong dự định, do đó chỉ thể hiện như “là nhu cau, là sự cố gang tìm tòi, là sự đến gần với lô-gích của Hé-ghen”[8, 391] mà thôi.Bêcơn (1561-1621) kế thừa quan điểm hình dạng của Arixtốt. Ông xem xét hình dạng không chi là hình thé không gian của sự vật mà còn là “bản chất của sự vật “tự nhiên””[14, 221].
Bêcơn chia vận động cua vật chất thành 19 dạng tương ứng với từng cấp độ cấu trúc vật chất. Đồng thời, các hình dạng cũng được phân thành hình dạng đơn giản và hình dạng phức tạp một cách tương ứng. Các hình dạng đơn giản tương ứng với trình độ của đối tượng ở mức độ cảm tinh, còn hình dạng phức tap thi chỉ có thé được rút ra từ tong số các hình dạng đơn giản nhờ phương pháp quy nạp. Nhờ phương pháp đó mà chuyên từ các hình dang kém chung sang các hình dạng chung hơn, dé cuối cùng quy về hình dạng cao nhất.
Có thé nhận thấy thực chất của việc rút ra các hình dạng phức tạp như thế chỉ là nhờ so sánh các hình dạng riêng bằng cách liệt kê nhiều lần và loại trừ. Mặc dù các tính chất của vật chất mà Bêcơn nêu ra là đa dạng, nhưng xét đến cùng, đều là các thuộc tính được ghi nhận một cách cảm tính, còn các dạng vận động “nhìn chung đều quy về vận động cơ học”[14, 221]. Nói cách khác, vật chất ở Bêcơn chỉ được xem xét trong giới hạn cảm tính, chính vì vậy mà T.Hốpxơ (1588-1679) về sau đã quy tất cả các dang vận động 6 Bêcơn về vận động cơ học hoặc toán học và các tính chất của vật chất về tính chất không-thời gian. Tương ứng thì sự khác biệt giữa các tính chất cơ học của vật chất và các loại hình dạng cũng chỉ là sự khác biệt bên ngoài, vì sự khác biệt như thế không thể phát triển thành đối lập và mâu thuẫn mà chỉ dừng lại ở sự khác nhau giản đơn.
Ban chat (hình dạng) ở Bécon không có sự khác biệt bên trong mà chỉ ghi lại những tính chất cơ học của vật chất, hơn nữa, những giới hạn này cũng chỉ là tương đối vì được đem lại trong trực quan nên không ngừng mở rộng cùng với sự mở rộng của kinh nghiệm cảm tính. Do vậy, cái phổ biến ở Bêcơn vẫn chỉ là cái phổ biến trừu tượng, chỉ là bản chất giản đơn trùng ngay với những hình thức biểu hiện trực tiếp bên ngoài của nó.Xpinôda (1632-1677) xuất phát từ nguyên tắc nhất nguyên về một thực thé đã đồng nhất cái phô biến với Thượng đế, với tự nhiên và thực thé. Ông hiểu thực thé là cái phố biến chứa đựng vô số các đặc tính, trong đó mỗi đặc tính đều biểu thi bản chất vĩnh hăng và vô han của cái phổ biến mà hai đặc tính quan trọng nhất của nó là quảng tính và tư duy. Thực thé được xác định như là cái tồn tại tự nó và tự biểu lộ.Décacto (1596-1654) phân ra hai thực thể không gắn với nhau đó là vật chất như thực thé quảng tính và tư duy như thực thé tinh than thì Xpinôda đã gộp cả tư duy và quảng tính về một thực thé là tự nhiên và xem xét chúng như hai thuộc tính không tách rời nhau.
Ở Xpindda, tư duy được nâng lên là “hành động được thực hiện một cách không gian bởi thé xác thiên nhiên”[6, 60] nên tư duy không han là chỉ thuộc về từng sự vật đơn nhất riêng lẻ, mà chủ yếu thuộc về tổng thé của chúng. Thực thé tu duy va thực thể có quảng tính thực chất là hai thuộc tính của cùng một thực thể, chỉ có điều nó được hiểu khi thì dưới đặc tính này, khi thì đưới đặc tính khác. Thực thé có mặt một cách trực tiếp trong các đặc tính của nó, diễn tả chính mình một cách tĩnh lặng trong cái toàn thé dang vận động của các đặc tính, toàn thể hóa các đặc tính theo nghĩa là tự khai mở, tự 10 biểu lộ nơi chúng như là tính phủ định tuyệt đối, vô hạn của chúng. Thực thể không chỉ tự khai mở trong các đặc tính như là sức mạnh tuyệt đối mà còn tự bộc lộ như là sự phong phú của toàn bộ nội dung đặc tính khi triển khai.
Ở Xpinôda, sự tiêu biến của các đặc tính chính là bản thân tính thực thể của chúng, vì chỉ có việc phủ định tính khẳng định trực tiếp của các đặc tính thì sức mạnh phủ định của thực thể mới tự hoàn tất một cách khẳng định và tự xác định chính mình như là nội dung phong phú của đặc tính mà nó tiếp thu. Đối với Xpinôda thì trật tự và mối liên hệ giữa các tư tưởng cũng là trật tự và mối liên hệ giữa các sự vật. Các thuộc tính tạo thành bản chất của thực thể, và bản chất thì cần phải hiện thực hóa sự vận động của nó ra bên ngoài. Nhưng ở Xpinôda, không có sự phân chia của thực thể thành các mặt đối lập và mâu thuẫn, nên trong chừng mực đó thực thể vẫn là bản chất bất động, không hoạt động, không phát triển.
Do vậy, sự khác nhau giữa tư duy và quảng tính vẫn chỉ là sự khác biệt bên ngoài, vì quan hệ bên trong của chúng không có tính phủ định biện chứng. Thực thé, với tư cách là quyền lực phổ biến của sự phủ định, “hầu như chi là một hồ thăm đen ngòm, không có hình thái, nuốt chứng mọi nội dung xác định như là những gì tuyệt đối vô hiệu và không sản sinh ra được từ chính minh bat kỳ cái gì có một sự bền vững tự tồn khang định nơi chính mình cả”[2, 449]. Thực thé là thực tại phố biến duy nhất, còn thế giới của những đối tượng đơn nhất hữu hạn thì không có tính thực tại và tính hiện thực tuyệt đối, không có năng lực độc lập tự tồn, hoan toàn bị động và bị thống tri bởi quyền lực của sự phủ định có sức mạnh ghê gớm. Do đó thực thé ở Xpinôda, theo nhận định của Héghen, mới chỉ là cái “tự mình” một cách mặc nhiên, tiềm năng chứ chưa phải chủ thể tự do “biểu lộ”, tự do “khai mở” chính mình trong cái khác của mình.
Lépnít (1646-1716) cũng xem Chúa như thực thé thống nhất, nhưng xuất phát từ nguyên tắc đa nguyên, đa dạng của thực thể, ông đưa ra khái niệm “đơn tử”. Các đơn tử là các đơn vị cấu thành nên thế giới, chúng là đa dạng vì ngoài những thuộc tính chung, chúng có những thuộc tính riêng khác 11 nhau. Thuộc tính quan trọng nhất hay bản chất đầu tiên của đơn tử là năng lực trực giác vô thức. Trực giác vô thức luôn có xu hướng hướng tới sự toàn vẹn, được gắn cho cả các các sự vật tồn tại bên ngoài con người, do vậy, nó được hiểu tương tự như nguyên nhân mục đích ở Arixtốt.
Don tử là “thực thể toàn vẹn, không phân chia được và không có quảng tính, không trải qua quá trình ra đời và tiêu vong thông thường, chi ra đời cùng lúc với sự sáng tao”[5, 303]. Xét ở góc độ bản thé luận, các đơn tử chính là những bản chất thuần túy được lồng ghép vao các sự vật, tạo ra sự đa dạng của chúng, là “những ban chất được “nhéi nhét” vào những vật thể tự nhiên và có can hệ với tính đa dạng của chúng, với những biểu hiện và biến đối độc đáo của chúng”[5, 304] Don tử là cái phô biến ở góc độ nó là thực thé, chứa đựng những thuộc tính đa dạng, cau thành ca ban chất của các vật thé tự nhiên và linh hồn con người, bản ngã đạo đức cũng như nguồn gốc của sự biến đổi, chứa đựng những trực giác vô thức là cội nguồn ý thức của con người. Ở Lépnít, các đơn tử không phải các thực thể vật chất mà là các thực thể tinh thần riêng biỆt. Các thực thé tinh thần này có năng lực trực giác vô thức, tương tự như ý niệm bam sinh kiêu Décacto.
Năng lực này biểu hiện như “khát vọng” hay nguyên nhân mục đích do đó không chỉ tồn tại ở ý thức con người mà cả trong các sự vật tự nhiên. Theo Lépnít, những người kế tục Đềcáctơ đã sai lầm khi không gan y niém bam sinh cho các sự vật tự nhiên. Lépnit quan niệm vũ trụ được tạo thành bởi các đơn tử, trong đó, Thượng đề là đơn tử tối cao, là cơ sở cho mối liên hệ hài hòa tiền định của các đơn tử cá biệt. Như vậy, chủ nghĩa duy lý cận đại đã đem lại một cách lý giải triệt để hơn so với chủ nghĩa duy vật cô đại trong vấn đề cái phổ biến.
Cái phô biến còn được hiểu là nguyên nhân tự thân hay nguyên nhân cuối cùng, chang hạn như Chúa, đơn tử. Tuy nhiên, cái phô biến ở giai đoạn này cũng chỉ đạt đến trình độ là thực thé. Nói cách khác, cái phố biến mới chỉ là “thực thể - khách thể” mà chưa được xét như là “thực thê - chủ thể”. Giữa cái phổ biến và cái đặc thù chưa thực sự có tính phủ định biện chứng.
Cái phổ biến chỉ được xem 12 như cơ sở phi nội dung của ton tại mà chưa có tính tích cực. Ở thực thê, với tư cách là bản chất, vẫn chưa có sự phân chia thành các mặt đối lập và mâu thuẫn, và chừng nao chưa chứa đựng mâu thuẫn thực sự thì thực thể vẫn mãi mãi là bản chất bất động, chưa tự thân vận động, tự thân triển khai như là chủ thể, điều mà sau này chỉ có triết học biện chứng cô điển Đức mới mang lại. Vấn dé cái pho biến trong triết học Héghen 1. Cái phố biến với ý nghĩa là Khái niệm tự quy định vô hạn và tự do G.Hêghen (1770 - 1831) trên cơ sở kế thừa có phê phán triết học đồng nhất của Senlinh (1775 - 1854) đã xây dựng một hệ thống triết học bao chứa mọi tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy.