phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 7 tiết. CHƢƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƢ TƢỞNG ARISTOTLE VỀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA TƢ DUY 1. Khái niệm chung về quy luật cơ bản của tƣ duy Con người với bản tính của mình luôn muốn khám phá thế giới xung quanh, khát vọng đó không bao giờ dừng lại, chính vì thế con người ngày càng đạt được nhiều kết quả mới đáng tự hào trên con đường chinh phục tự nhiên và khám phá bản chất của chính mình. Để đạt được những thành quả lớn lao, nhận thức của con người không thể dừng lại ở trình độ cảm tính mà phải vươn tới trình độ lý tính, phải vươn tới hiểu biết được quy luật.
Có như vậy hiểu biết đó mới trở thành công cụ đắc lực cho hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn. Vai trò của nhận thức quy luật đối với hoạt động của con người là không thể phủ nhận được. Ngay từ buổi bình minh của nhân loại những tri thức về quy luật đã hình thành, không những thế vấn đề quy luật còn được quan tâm nghiên cứu với tư cách là khái niệm khoa học. Trong lịch sử triết học phạm trù quy luật được rất nhiều nhà triết học quan tâm, định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và nó chủ yếu được quy về một hoặc một số các phạm trù khác.
Mác, Ăngghen và Lênin mặc dù rất quan tâm đến phạm trù quy luật z 11 nhưng không phát biểu thành định nghĩa mà chỉ đưa ra những đặc trưng cơ bản của nó bao gồm tính khách quan, tính tất yếu, tính bản chất và tính phổ biến,… Các giáo trình đại học và cao đẳng hiện nay trình bày định nghĩa về quy luật cũng chưa được thống nhất. Ở đây chúng tôi xin nêu ra một vài định nghĩa về quy luật trong một số tài liệu: "Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau" [1, 230]. "Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất yếu và phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan" [38, 110]. "Quy luật là mối liên hệ tất yếu, bản chất, phổ biến và ổn định, được lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng" [10, 85].
Phần lớn các ý kiến đều thống nhất với nhau ở những điểm chủ yếu và chúng tôi cho rằng: Quy luật là những mối liên hệ khách quan, tất yếu và phổ biến giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng nhất định. Quy luật không phải là sự vật, hiện tượng, mà là mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định. Con người chỉ có thể nhận thức được đối tượng thông qua quan hệ của nó với các sự vật, hiện tượng khác. Chính trong sự tương tác với các sự vật hiện tượng khác mà đối tượng bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của mình, các thuộc tính của đối tượng được bộc lộ ra tỉ lệ thuận với sự tương tác, nghĩa là càng thông qua nhiều mối liên hệ và tác động qua lại thì đối tượng càng thể hiện đầy đủ đặc điểm, bản chất của mình.
Như vậy, khi nói quy luật là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng z 12 nhất định, cũng có nghĩa là khẳng định rằng quy luật phản ánh thuộc tính của các sự vật, hiện tượng đó. Khi khẳng định quy luật là mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng thì không có nghĩa quy luật đã là mọi mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật hiện tượng mà chỉ khái quát những quan hệ mang tính tất yếu nội tại giữa các hiện tượng. Những quan hệ này phải thể hiện sự thống nhất, sự gắn kết chứ không phải sự khác biệt giữa chúng, tức là quy luật không phản ánh cái tách biệt giữa chúng. Không những thế các mối liên hệ được gọi là quy luật đó còn phải mang tính khách quan, tất yếu và phổ biến.
Tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong vô vàn mối liên hệ qua lại, trong sự tương tác lẫn nhau. Chính trong các mối liên hệ đó sự vật, hiện tượng ngày càng bộc lộ rõ bản chất của mình, tuy nhiên chúng chỉ được gọi là quy luật khi là những mối liên hệ có tính bản chất, ổn định, đồng thời phải bao quát tất cả các sự vật, hiện tượng của một nhóm nào đó. Với ý nghĩa như vậy tri thức về quy luật là tri thức đúng đắn của con người phản ánh chân thực thế giới sống của mình, chỉ có những tri thức như vậy mới đáp ứng được nhu cầu hoạt động sống của con người. Tuy nhiên, sự vật hiện tượng trong thế giới không chỉ tồn tại trong vô vàn mối liên hệ lẫn nhau mà còn tồn tại trong sự vận động và phát triển không ngừng, ngay cả tư duy, nhận thức của con người cũng không là ngoại lệ.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, những tri thức nào không phản ánh đúng đắn đối tượng và quy luật của nó như đang có trong hiện thực khách quan sẽ nhanh chóng bị đào thải vì chúng không thể là kim chỉ nam cho hoạt động của con người. Như vậy, quy luật còn là sản phẩm của nhận thức con người trong quá trình tiếp xúc, nghiên cứu đối tượng, nó là sự kết tinh của kinh nghiệm và tri thức của con người trong quá trình chinh phục thế giới xung quanh. Quy luật, z 13 ở một nghĩa nhất định, chính là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, con người dùng ngôn ngữ chủ quan của mình để diễn đạt quy luật của thế giới khách quan, nhưng nội dung của quy luật lại phản ánh trung thực các mối liên hệ, nghĩa là tinh thần của quy luật ấy hoàn toàn đồng nhất với sự tồn tại nội tại của đối tượng. Chính vì lẽ đó nên nội dung của quy luật là khách quan, không phụ thuộc vào ưý muốn chủ quan của con người.
Nhận thức quy luật cũng chính là nhận thức đối tượng, những tri thức về quy luật phản ánh tính ổn định, tính bản chất của đối tượng. Những đặc tính của đối tượng được phản ánh trong quy luật sẽ luôn luôn được thoả mãn khi gặp các điều kiện cần và đủ cho sự tác động của quy luật đó. Từ đó có thể thấy, nhận thức của con người về đối tượng cần phải hướng tới những tri thức mang tính quy luật. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, quy luật không chỉ có tính khách quan mà còn có tính tất yếu, tính tất yếu của quy luật thể hiện ở chỗ là khi có sự vật, hiện tượng thoả mãn những điều kiện tương ứng thì nhất định sẽ diễn ra những mối liên hệ theo đúng nội dung của quy luật phản ánh về đối tượng trong trường hợp đó mà không và không bao giờ có thể xảy ra theo hướng khác.
Sở dĩ có tình trạng đó là do quy luật được khái quát từ chính sự tồn tại thực của đối tượng, tính tất yếu của quy luật là do bản thân sự vật, hiện tượng được phản ánh quy định chứ không phải là sự áp đặt của bất cứ ai hay của bất cứ lực lượng nào. Đúng như Mác đã khẳng định trong "Tư bản": "quy luật là mối liên hệ nội tại và tất yếu giữa hai hiện tượng" [24, 272]. Tính tất yếu của quy luật rất bền vững, là cái nhất định sẽ tác động khi có những sự vật, hiện tượng cùng với điều kiện cần và điều kiện đủ để xảy ra sự tác động của quy luật đó. Nếu thiếu sự vật, hiện tượng hoặc thiếu điều kiện nào đó thì không thể có sự tác động của quy luật, khi đó tính tất yếu của quy luật đương nhiên sẽ không được đảm bảo.
Điều đó có nghĩa là tính tất yếu của quy luật mặc dù là tự tính, là cái bền vững, nhưng nếu không có những điều z 14 kiện tương ứng cho sự tác động của quy luật, không có sự vật, hiện tượng đúng như quy luật phản ánh thì tính tất yếu của quy luật cũng vô nghĩa, nói cách khác là khi đó quy luật không thể phát huy tác dụng của nó. Theoư nghĩa thông thường thì cái phổ biến là cái ta thường gặp ở nhiều nơi và có thể áp dụng đối với một tập hợp các sự vật, hiện tượng. Tính phổ biến của quy luật chỉ có nghĩa là nó thường xuyên được lặp lại trong những điều kiện tương ứng, điều đó là không thể tránh khỏi đối với tất cả các sự vật, hiện tượng thuộc phạm vi tác động của quy luật. Nói về đặc trưng này, Ăngghen khẳng định: "Hình thức của tính phổ biến trong tự nhiên là quy luật" [25, 702].
Tính phổ biến của quy luật có quan hệ mật thiết với tính tất yếu nội tại vì tính tất yếu là cái luôn xảy ra và luôn được lặp lại trong những điều kiện nhất định, như vậy tính phổ biến rất dễ nhận thấy thông qua sự lặp lại của nó, chỉ có điều không phải mọi cái được lặp lại đều được gọi là quy luật mà chỉ có những cái phổ biến phản ánh sự ổn định, bền vững, phản ánh mối liên hệ bên trong mang tính bản chất mới đươc gọi là quy luật. "Quy luật là cái gì bền vững (cái được bảo toàn) trong hiện tượng" [22, 160]. Từ sự phân tích ở trên có thể thấy rằng quy luật còn là mối liên hệ bản chất vì cái bản chất không phải là cái gì khác mà chính là sự tổng hợp của tất cả những mặt, những mối liên hệ tất yếu, tương đối ổn định ở bên trong sự vật, hiện tượng. Chính Lênin cũng cho rằng: "Quy luật là phản ánh của cái bản chất trong sự vận động của vũ trụ" [22, 161].
Ở đây rất cần lưu ưý rằng, mỗi quy luật chỉ phản ánh một quan hệ bản chất xác định của sự vật, hiện tượng nhất định, chứ không phản ánh hết bản chất của đối tượng nghiên cứu. Muốn xét mọi bản chất của sự vật, hiện tượng thì người ta phải xét tổng hợp tất cả các quy luật phản ánh sự vật, hiện tượng đó.