chương 1 để phân tích sự đối lập giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy cảm trong triết học Tây Âu thé ki XVII - XVIII va nhing van dé dat ra với nhận thức luận của Kant. Tuy nhiên, nhìn chung, ở nước ta chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống để chỉ ra những đóng góp và hạn chế, và nhất là những ảnh hưởng tiêu cực của hai trào lưu nhận thức luận quan trọng này trong giai đoạn hiện nay và biện pháp khắc phục chúng. CHUONG 1 CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM VÀ CHỦ NGHĨA DUY LÝ — NHỮNG QUAN DIEM DOI LAP VỀ LÝ LUẬN NHẬN THỨC 'Nhận thức có nguồn ốc từ sự quan sát bằng giác quan hay từ sự suy đoán của tư duy? Thế nào là chân lý, con đường đạt đến lý và tiêu chuẩn của chân lý? Hai trảo lưu lớn trong lý luận nhận thức đã trả lời những câu hỏi này bằng những cách khác nhau, đó là chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý. QUAN DIEM CUA CHU NGHĨA KINH NGHIEM VE BAN CHAT.
VA CON DUONG NHAN THUC CHAN LY. Khi lệm về chủ nghĩa kinh nghiệm. “Thuật ngữ “chủ nghĩa kinh nghiệm” (tiếng Anh: empirieism) bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “€unerpia” (Latinh: experientia, Anh: experience, dịch ra tiếng Việt kinh nghiệm). Chủ nghĩa kinh nghiệm là khuynh hướng triết học cho tầng kinh nghiệm, đặc biệt là kinh nghiệm cảm tính (những gì chúng ta quan sát được bằng giác quan), là nguồn gốc duy nhất của mọi trỉ thức.
Chủ nghĩa kinh nghiệm có thể là duy vật (chủ nghĩa kinh nghiệm của John Locke) hoặc duy tâm (chủ nghĩa kinh nghiệm của George Berkeley và David Hume) Người sáng lập chủ nghĩa kinh nghiệm là John Locke (1632-1704), nhà triết học Anh thế kỉ XVII. Tuy nhiên, chủ nghĩa kinh nghiệm có nguồn gốc xa xưa từ thời cô đại với quan niệm về vai trò quan trọng của kinh nghiệm trong triết học 4zisorle. Chủ nghĩa kinh nghiệm ở John Locke còn nằm trong khuôn khổ chủ nghĩa duy vật. Tuy nhiên, đến George Berkeley va David Hume, chủ nghĩa kinh nghiệm đã chuyển sang hình thức duy tâm chủ quan Các nhà ngụy biện là những nhà kinh nghiệm đầu tiên trong triết học.
Tây Âu cỗ đại khi họ phủ nhận các suy đoán duy lý về bản chất của thế giới, khẳng định vai trò của nhận thức giác quan. Tiếp sau đó là Aristote khi ông đưa ra nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa duy kinh nghiệm “không có gì trong. lý tính mà nó lại không đến đầu tiên từ các giác quan”. Nguyên lý này đã được Thomas Aquino tiếp thu vào xây dựng học thuyết triết học của mình và ông được coi là một đại diện của chủ nghĩa duy kinh nghiệm Trung cổ cùng với các đại biểu của chủ nghĩa duy danh.
Đến thời Phục hưng với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học thực nghiệm, các nhà triết học Teledio, Bruno. déu nhắn mạnh vai trò của tri thức kinh nghiệm trong nhận thức. 1I Quan nigm co ban cia chit nghia kinh nghigm thé ki XVI — XVIII vé bi chất và con đường nhận thức. Các khái niệm sơ khai về sự tồn tại của "các ý niệm bảm sinh" đã là chủ đề của cuộc tranh luận giữa các nhà duy lý lục địa và các nhà kinh nghiệm chủ nghĩa Anh trong suốt thời gian từ thế kỳ XVII đến cuối thé ky XVIII.
John Locke, George Berkeley, va David Hume da la những người diễn giải chính của chủ nghĩa kinh nghiệm. Có lẽ, các nhà triết học kinh nghiệm đầu tiên của triết học phương Tây là các nhà Sophist, mà đại biểu xuất sắc là Pzoagoras (khoảng 500 - 428 tr. CN); họ đã phủ nhận các suy đoán duy lý về bản chất của thế giới để tập trung. vào “những thực thể tương đối cụ thể hơn chẳng hạn như con người và xã hội”.
Aristotle (384-322 TCN) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quy nạp dựa trên kinh nghiệm. Phản ứng chống lại cách tiếp cận duy lý của Plato. (427-347 TCN), trong những năm cuối đời Aristotle đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì các giác quan thu nhận được, nghĩa là nhấn mạnh vào các quan sát hậu nghiệm. Aristotle dùng thuật ngữ triết học tự nhiên để gọi nhiệm vụ tìm hiểu thế giới tự nhiên, sử dụng cái mà sau này đã được biết với tên lập luận quy nạp để đi đến các phạm trù và nguyên lý dựa trên dữ liệu giác quan.
Cách tiếp cận này đã đối ngược sâu sắc với lý thuyết hình thức của Plato - lý thuyết phụ thuộc rất lớn vào các giả thuyết tiên nghiệm. “Không có gì trong trí tuệ mà trước đó không có trong cảm giác” là một nguyên tắc căn bản đối với Aristotle cũng như đối với học trò của ông sau này, Một thế hệ sau Aristotle, cả các nhà triết học phái Khắc ký (Sioie) và chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa Epicurus đều thiết lập các giải thích tường. minh hon theo kiểu kinh nghiệm về sự hình thành của các ý niệm và khái niệm. Thomas Aquinas lép luận rằng sự tổn tại của Thượng để có thể được chứng minh bằng lập luận từ dữ liệu giác quan.
Ông sử dụng một biến thể khái niệm của Aristotle về “trí tuệ chi déng” (active imellec:) mà ông giải nghĩa là khả năng trừu tượng hóa ý nghĩa phổ quát từ dữ liệu kinh nghiệm cụ thé, én thé ki XVII — XVIII, do sự phát triển của phương thức sản xuất tư. bản chủ nghĩa và nhu cầu của cuộc cách mạng tư sản, các học giả của giai cấp. tư sản đang lên dựa vào thành tựu của khoa học thực nghiệm để bác bỏ con đường nhận thức bằng niềm tin. Một số nhà triết học, như Ph.
Đêcáctơ (René Descartes) đã lấy nghỉ ngờ làm nguyên tắc xuất phát cho nhận thức khoa học. Các nhà triết học Anh, như Eraneis Bacon, Thomas Hobbes (T. Hôpxơ), John Locke (Giôn Lôccơ) coi quan sát, thực 10 nghiệm khoa học và phương pháp quy nạp là con đường duy nhất để đạt được. tri thức khoa học, từ đó hình thành một truyền thống trong triết học Anh: chủ nghĩa kinh nghiệm.
Phản ứng lại "chủ nghĩa duy lý" lục địa mà người bảo vệ xuất sắc nhất la René Descartes, nha tri học Anh John Locke (1632-1704), trong cuén Luận về hiểu biết của con người, năm (1689), ở tác phâm nay John Locke da nghiên cứu vấn đề bản chất nhận thức con người và quá trình con người nhận thức thế gi Ong bác bỏ học thuyết truyền thống về tư tưởng bẩm sinh và ông tin rằng đầu óc con người khi sinh ra là một “tắm bảng trắng”, từ đó ông đã đề xuất một quan điểm mới mẻ và có tầm ảnh hưởng rất lớn, trong đó nói rằng trí trức duy nhất mà con người có thể có là tri thức hậu nghiệm, nghĩa là dựa trên các kinh nghiệm. Người ta ghi nhận Locke với khẳng định của ông rằng tâm thức con người là mot tabula rasa, tise mot “tim bảng trắng”, trong lời của Locke là “trang giấy trắng”, mà viết trên đó là các kinh nghiệm rút ra từ các ấn tượng giác quan khi cuộc đời của một con người tiến triển Theo Joln Locke có hai nguồn cho các ý niệm của chúng ta: cảm giác và suy tưởng. Trong cả hai trường hợp, ông phân biệt giữa các ý niệm đơn và các ý niệm phức. Các ý niệm đơn không thể phân tích được, và được phân ra thành các tính chất sơ cấp và thứ cấp.
Các ý niệm phức là kết hợp của các ý niệm đơn giản hơn và được chia thành các chat, các dạng thức và các quan hệ. ‘Van dé trung tâm trong hệ thống triết học của John Locke là sự tiếp tục phát triển quan điểm của F. Theo ông, nguồn gốc của tri thức là từ kinh nghiệm; thông qua sự tác động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vào các giác quan của con người mà hình thành nên những tài liệu cảm tính. " Để thể hiện lập trường duy giác luận của mình John Locke di cé nhimg khẳng định có tính chất kết luận: thứ nhất, ông cho rằng không có tư tưởng.
bam sinh, mọi nhận thức của con người đều được sinh ra từ trong kinh nghiệm. Với khẳng định này John Locke đã nhấn mạnh sự đối lập với quan điểm của Descartes về khẳng định: có tư tưởng bẩm sinh. Nếu Descartes xem các tiên đề toán học, các quy luật lôgic hay những. tri thức sơ đẳng là những tư tưởng vốn sẵn có trong tư duy của con người thì John Locke lại giải thích đó là điều không thể có.
Theo ông, tắt cả những trỉ thức mà con người có là kết quả của quá trình nhận thức do giác quan đưa lại vi thé, nhận thức trước hết phải là nhận thức cảm tính. Khẳng định thứ hai, ông nhắn mạnh, lý tính của con người khởi đầu như một “tấm bảng trắng” [38, Book 2, ch. Khẳng định này của John Locke đã thể hiện tư tưởng về sự phụ thuộc của tâm lý, của ý thức trong quá trình phát triển với môi trường xung quanh. Điều này có nghĩa, mỗi chúng ta khi mới sinh ra giống như tắm bảng sạch trơn, không một chút tì vết, ký hiệu hay một ý niệm nào cả, chỉ khi, thông qua các giác quan của mình con người mới tạo ra được những cửa số để tiếp cận với thế giới bên ngoài.
Khi đó, các tài liệu cảm tính mà các giác quan con người thu nhận được trở thành những, nét vẽ đầu tiên lên “⁄ang giấy trắng”. Đó là thời điểm đánh dấu đã đến lúc. con người lớn lên và hoạt động. Khẳng định thứ ba của John Locke rằng, trong lý tính không có cái gì mà trước đó lại không có trong cảm giác.
Khẳng định của John Locke không, chỉ thể hiện tính chất khái quát cao mà còn thể hiện quan điểm dứt khoát khẳng định lập trường duy cảm của mình, đồng thời, chứng minh tính chất siêu hình trong lý luận nhận thức của ông. 12 John Locke goi téng thể những tri thức mà con người có được thông. qua các giác quan là ý niém và ông chia kinh nghiệm làm hai loại là: kinh nghiệm bên ngoài và kinh nghiệm bên trong. Hai loại kinh nghiệm mà Locke phân chia thực chất là hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính của một quá trình nhận thức.
Nếu kinh nghiệm bên ngoài cho những ý niệm giản đơn về các đặc tính của sự vật bên ngoài dưới dạng đơn lẻ thì kinh nghiệm bên trong lại cho những ý niệm phức tạp, diễn tả sự suy ngẫm, ý thức hướng vào bản thân bên.