Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA G.HEGEL VỀ NHÀ NƯỚC TRONG TÁC PHẨM CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN 1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Phổ cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX C.Mác, trong Bài xã luận báo “Kolnische Zeitung số 179” có viết rằng: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [45, tr. Thật vậy, triết học là giá trị văn hóa tinh thần tinh tuý nhất, là thời đại lịch sử được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các vấn đề triết học, nó làm nên diện mạo tinh thần của thời đại. Theo đó, hệ thống triết học của Hegel là sự thấu hiểu, sự phản ánh một cách bao trùm và sâu sắc nhất của thời đại trong phạm vi tư tưởng. Sự thực, Hegel là đứa con của thời đại lịch sử diễn ra cuộc đấu tranh sống còn của giai cấp tư sản chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến.
Đây chính là thời kỳ lịch sử của sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản. Với nghĩa ấy, hệ thống triết học Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng, có đặc tính, như Mác đã vạch ra, “là lý luận Đức của cuộc cách mạng Pháp”, là sự chuẩn bị về hệ tư tưởng cho cách mạng dân chủ tư sản ở Đức. Có thể khẳng định rằng, sự ra đời của hệ thống Hegel nói chung và triết học pháp quyền nói riêng là có tính quy luật. Thực tế là, triết học pháp quyền Hegel ra đời không phải trên một mảnh đất hoang.
Nói cách khác, sự xuất hiện của nó là dựa trên một nền tảng, một bối cảnh lịch sử cụ thể. Bối cảnh ấy 14 z chính là hiện thực lịch sử, văn hóa, xã hội nước Đức3 và châu Âu cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Bối cảnh lịch sử Tây Âu cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Thời điểm lịch sử cho sự xuất hiện mầm mống của giai cấp tư sản cũng là thời điểm báo hiệu giờ cáo chung của chế độ phong kiến châu Âu đã đến là bắt đầu từ thế kỷ XV. Ở Tây Âu, cụ thể là ở Italia, ngay từ thế kỷ XV đã có sự xuất hiện của các công trường thủ công cùng với nó là nền sản xuất công trường thủ công đem lại năng suất lao động rất cao.
Việc cải tiến, sáng chế ra công cụ lao động mới như máy tự kéo sợi, máy in cùng với những phát kiến địa lý, như việc tìm ra châu Mỹ và các đường biển đến những miền đất mới…càng tạo điều kiện cho sự phát triển của nền sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa. Chính những bước tiến đó của nhân loại đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển như Anh, Italia, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan. Sự ra đời công cụ lao động mới có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển vượt bậc của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ như: Cơ học, Toán học, Thiên văn học. Sự phát triển của khoa học tự nhiên thời kỳ này là nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất tạo ra sự khác biệt của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa so với tất cả các xã hội trước đó.
Những phát minh khoa học được ứng dụng, thâm nhập vào cuộc sống, có vai trò rất lớn trong việc cấu thành một phương thức sản xuất mới. Không dừng lại ở đó, khoa học còn thâm nhập vào địa hạt kiến trúc thượng tầng của xã hội, tương tác với các bộ phận của nó. Những phát minh khoa học đã tạo nên những bước ngoặt trong lịch sử nhận thức nhân loại và có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng triết học Hegel. Chính sự xuất hiện của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mà nguồn gốc cuối cùng của nó là sự ra đời của công cụ lao động mới, dẫn đến việc nhân loại đã sáng tạo ra một lượng của cải vật chất gấp hàng trăm lần lượng của cải mà 3 Nước Đức còn gọi là nước Phổ - Preussen – được thành lập bởi vua Friedrich I từ năm 1701.
15 z phương thức cũ đã tạo ra được. Thực tế này đã được C.Mác ghi nhận: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các xã hội trước kia gộp lại” [48, tr. Đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng nhất trong đời sống kinh tế – xã hội châu Âu lúc bấy giờ, làm tăng trưởng mạnh mẽ trình độ, khối lượng và nhịp độ sản xuất của xã hội, đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có. Sự kiện này khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới; nó thể hiện khả năng, sức mạnh sáng tạo của lao động sản xuất, sức mạnh xã hội của con người trong việc chinh phục tự nhiên, cải tạo thế giới.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác nhận định: “Giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động của con người có khả năng làm được những gì” [48, tr. Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa phá tan dần các quan hệ kinh tế phong kiến, làm nảy sinh một giai cấp mới – giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản đã nhanh chóng trở thành một lực lượng xã hội tiến bộ đại diện cho một phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong xã hội phong kiến, giai cấp tư sản dưới hình thức mầm mống thuộc đẳng cấp thứ ba, tức đẳng cấp thấp nhất, phải chịu sự thống trị của đẳng cấp quý tộc và tăng lữ.
Đẳng cấp thứ ba này không chỉ bị sự áp bức về kinh tế mà còn bị kìm kẹp về quyền lợi chính trị, cùng lúc phải chịu ách thống trị của cả vương quyền và thần quyền. Chính bởi có sự biến đổi của công cụ lao động – với tư cách là thành tố quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất – cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã làm cho quan hệ sản xuất cũ mà về cơ bản là chế độ sở hữu trở lên lạc hậu, lỗi thời, kìm hãm sự phát triển chung của toàn xã hội. Chế độ phong kiến châu Âu cùng với những đặc trưng của nó là sự chuyên chế, đặc quyền đã không còn phù hợp trước đòi hỏi của thời đại, của lịch sử lúc bấy giờ đặt ra. Do đó, việc xoá bỏ chế độ phong kiến, đẳng cấp, xây dựng một chế độ xã hội mới dựa trên quan 16 z hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất là một xu thế lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi.
Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, giai cấp tư sản đã nhanh chóng khẳng định mình là một lực lượng chính trị độc lập. Giai cấp này - đứng trước đòi hỏi bức thiết của sự phát triển lịch sử - cùng với quần chúng nhân dân đã tự mình tổ chức cuộc đấu tranh lâu dài và quyết liệt nhằm lật đổ sự thống trị của chế độ phong kiến và nhà thờ. Các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên đã nổ ra ở Hà Lan, đặc biệt là ở Anh (1642-1648). Tuy rằng, cuộc cách mạng tư sản ở Anh đã giành được thắng lợi song đó là cuộc cách mạng chưa triệt để, theo nghĩa nó chưa thực hiện được nhiệm vụ lịch sử của mình là tiêu diệt tận gốc chế độ phong kiến châu Âu.
Tiếp bước cách mạng tư sản Anh là cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) cùng với việc xử tử vua Lui XVI là một trong những đòn quyết định tiêu diệt chế độ phong kiến ở châu Âu. Đúng khi cuộc cách mạng Pháp hoàn thành thì lịch sử châu Âu lật sang một trang mới, tràn ngập ánh sáng. Sự kiện vĩ đại đó cũng đồng nghĩa với sự tiêu vong, đồng nghĩa với việc chấm dứt sự tồn tại dai dẳng của chế độ phong kiến trong hơn một nghìn năm. Trong thời đại của Hegel, “tự do” trở thành khái niệm trung tâm của thời Cận Đại, là tinh thần của thời đại.
Hegel chỉ rõ, “cảm thức về sự tự do và trật tự nảy sinh chủ yếu ở các thành thị”, ở thời đại nổi lên của giai cấp tư sản [18, tr. Cùng thời với Hegel, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản Pháp Denis Diderot (1713-1784) cũng đã khái quát lại rằng: “mỗi một thế kỷ đều có tinh thần riêng của nó. Tinh thần của thời đại chúng ta là tinh thần tự do” [83, tr. Thật vậy, tự do – đó là lý tưởng đấu tranh của cuộc Đại Cách mạng Pháp năm 1789.
Dưới ngọn cờ tự do, giai cấp tư sản đã tập hợp, lôi cuốn được sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Như một tất yếu không thể đảo ngược, triết học với tư cách là sự phản ánh một cách bao trùm và sâu sắc nhất của thời đại trong phạm vi tư 17 z tưởng, sẽ là “tấm gương” phản ánh tinh thần tự do của thời đại cách mạng tư sản. Nói như Hegel rằng, “chỉ một khi hiện thực đã đạt tới độ chín muồi thì cái lý tưởng mới xuất hiện ra như là cái đối lập lại với hiện tồn, nắm bắt thế giới hiện tồn trong bản thể của nó và tái tạo lại thế giới ấy dưới hình thái của một vương quốc trí tuệ” [18, tr. Không còn nghi ngờ gì nữa, thực tiễn cách mạng có tính chất tiến bộ trên chính là nguồn gốc sâu xa của những tư tưởng triết học đứng ngang tầm thời đại của Hegel.
Đi cùng với thời đại chuyển tiếp từ chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa tư bản thì một yêu cầu mới đã nảy sinh đối với ý thức hệ tiên tiến (ý thức hệ của giai cấp tư sản) là: phải phê phán tất cả những gì là cản trở đối với lợi ích tư sản, đồng thời luận chứng cho tất cả những gì là chính đáng cho lợi ích tư sản, trong tương quan đối lập với lợi ích phong kiến. Các nhà tư tưởng tư sản đòi trả lại cho con người những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đã và đang phủ nhận như: quyền tự do, bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc.