Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và sự vận dụng của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay" được thực hiện xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong di sản lý luận mácxít, C.Mác đã sử dụng hình tượng nghệ sĩ vĩ cầm tự điều khiển cây đàn và dàn nhạc giao hưởng tuân theo sự chỉ huy của nhạc trưởng để khẳng định rằng sức mạnh của tổ chức vô sản bắt buộc phải dựa trên sự thống nhất và tính tự giác. Kế thừa tư tưởng đó, V.Lênin đã phát triển và hoàn thiện lý luận về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, xác định chế độ tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt và hoạt động cơ bản.

Tuy nhiên, thực tiễn công tác xây dựng Đảng tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, đặc biệt là qua các kỳ Đại hội gần đây và các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, đã bộc lộ những vấn đề phức tạp. Văn bản luận án nêu rõ những câu hỏi thực tiễn: vì sao có những chủ trương lớn huy động trí tuệ tập thể bàn bạc và biểu quyết theo đa số nhưng vẫn sai lệch; vì sao công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thực hiện đúng quy trình và nguyên tắc tập trung dân chủ nhưng vẫn bộc lộ nhiều khuyết điểm nghiêm trọng; điển hình là các vụ việc kỷ luật cán bộ như trường hợp của Trịnh Xuân Thanh (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang) và Nguyễn Xuân Anh (nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng). Thực trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, giảm sút tự phê bình và phê bình, bệnh quan liêu hoặc dân chủ hình thức xuất hiện ở nhiều cấp độ, từ Trung ương, các bộ, ngành đến địa phương và cơ sở. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu từ giác độ triết học nhằm làm rõ bản chất lý luận mácxít - lêninnít về chế độ tập trung dân chủ và đánh giá toàn diện quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

Mục đích nghiên cứu của luận án là luận chứng làm rõ nội dung cốt lõi trong quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ; phân tích sự vận dụng quan điểm này của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới (1986) đến nay; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung:

  1. Luận chứng làm rõ thực chất quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đổi mới đến nay.
  3. Đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay và giai đoạn tới.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ và quá trình vận dụng quan điểm này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian và nội dung được giới hạn dưới góc độ triết học, tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế độ tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động nội bộ Đảng, không mở rộng sang các lĩnh vực khác. Về mặt thời gian, luận án tập trung vào giai đoạn hình thành, phát triển tư tưởng của V.Lênin; điểm qua sự vận dụng ở Chủ tịch Hồ Chí Minh; và khảo sát chuyên sâu quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ mốc khởi xướng công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay (thời điểm triển khai các Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6 khóa XII).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo các nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu và công trình Luận điểm chính được trích dẫn trong văn bản
Nghiên cứu quốc tế về nguyên tắc tập trung dân chủ của V.Lênin - A.Xamôxuđốp (Liên Xô): Nguyên tắc tập trung dân chủ và sự thống nhất của Đảng mácxít lêninnít
- G.Vintecphen (CHDC Đức): Chế độ tập trung dân chủ và các yêu cầu cao đối với đảng viên
- V.Cơrípsích (Liên Xô): Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về sự lãnh đạo tập thể của Đảng
- Từ điển Petit Larousse
- Nguyên tắc tập trung dân chủ là điều kiện bảo đảm sự thống nhất hành động và năng lực lãnh đạo của chính đảng vô sản; khẳng định kết luận của Hội nghị Trung ương XXIV Đảng Cộng sản Liên Xô.
- Phân tích thực tiễn tại Xí nghiệp liên hợp cơ khí nặng E.Tenlơman (Mácđêbuốc), khẳng định tính thống nhất không thể tách rời giữa tập trung và dân chủ.
- Khảo sát Hội nghị Tammécpho (1905) và 6 nguyên tắc xây dựng Đảng của V.Lênin; trích nhận xét của Gh.Sisêrin về thái độ phục tùng tập thể của V.Lênin; phê phán sự vi phạm nguyên tắc của Gi.Xtalin (hơn 13 năm không triệu tập đại hội).
- Định nghĩa nguồn gốc quyền lực tập trung của các tổ chức chính trị.
Bản chất lý luận và thuật ngữ tập trung dân chủ - Nguyễn Văn Huyên: Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nguyễn Bá Dương: Ý nghĩa thời sự của học thuyết Lênin về xây dựng Đảng cầm quyền
- Nguyễn Tiến Phồn: Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn
- Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng chỉnh đốn Đảng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
- Mạch Quang Thắng: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng - những vấn đề nhận thức thêm
- Bùi Phan Kỳ: Tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản giúp đảng cộng sản loại bỏ mọi khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội
- Vũ Như Khôi: Phát huy dân chủ trong Đảng vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
- Phân tích các tác phẩm Làm gì? và Một bước tiến hai bước lùi; luận giải tính tất yếu của việc chống chủ nghĩa phân tán, bè phái.
- TTDC kết hợp hữu cơ tập trung và dân chủ, bắt nguồn từ nền đại công nghiệp, loại trừ cả chủ nghĩa vô chính phủ lẫn sự độc đoán chuyên quyền.
- Quan hệ biện chứng: dân chủ là cơ sở, mục đích; tập trung là phương thức, điều kiện.
- Khẳng định hai mặt tập trung và dân chủ thống nhất biện chứng; không thể coi mặt này là tính từ của mặt kia; bảo đảm phát huy sáng kiến gắn liền với kỷ luật thống nhất.
- Khảo cứu thuật ngữ Democraticheskii centralism; chỉ ra Điều lệ Đảng Đại hội X (2006) xác định 6 nội dung cơ bản.
- Phân tích ngữ nghĩa tiếng Pháp (centralisme démocratique), tiếng Anh (democratic centralism), diễn giải là "chế độ tập trung mang tính dân chủ"; phê phán các luận giải mang tính bình luận chính trị rời xa khoa học tổ chức.
- Khảo sát lịch sử dùng từ: từ Đại hội I (1935) đến Đại hội II (1951) dùng "dân chủ tập trung", từ Đại hội III (1960) chính thức chuyển sang dùng "tập trung dân chủ".
Sự vận dụng của Hồ Chí Minh và điều kiện thực hiện - Hoàng Chí Bảo, Lê Đức Bình, Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Tiến Phồn
- Mạch Quang Thắng
- Nguyễn Phú Trọng: Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới
- Hồ Chí Minh xem tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung; kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt nhưng tự giác; tôn trọng thiểu số, phục tùng chân lý.
- Khẳng định chế độ tập trung dân chủ đòi hỏi "điều kiện tiên quyết": tổ chức đảng phải trong sạch, đảng viên tốt chiếm đa số. Nếu đa số thoái hóa, biến chất thì nguyên tắc "thiểu số phục tùng đa số" sẽ làm triệt tiêu nhân tố tích cực.
- Cảnh báo tình trạng áp dụng nguyên tắc một cách tùy tiện dẫn đến việc bóp méo, lợi dụng nguyên tắc để loại bỏ người ngay thẳng.
Thực trạng vận dụng và bài học kinh nghiệm - Lưu Văn Sùng: Dân chủ trong Đảng Cộng sản - những bài học kinh nghiệm từ cải tổ, cải cách và đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa
- Đặng Hữu Toàn: Quan điểm của V.Lênin về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng đảng cầm quyền
- Nguyễn Minh Tuấn, Đức Vượng, Trần Vũ Triêu
- Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu; đối lập với thành công đổi mới của Việt Nam và cải cách của Trung Quốc; chỉ rõ nguy cơ "thị trường quan chức" trong kinh tế thị trường.
- Khẳng định nguyên tắc TTDC được ghi nhận tại Điều 4 Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013.
- Đánh giá thành tựu (mở rộng sinh hoạt dân chủ, đối thoại với dân) và hạn chế (quan liêu, dân chủ hình thức, né tránh phê bình, chi bộ bỏ sinh hoạt 3-5 đến 9 kỳ/năm, không chấp hành kỷ luật cấp trên).
Các nhóm giải pháp đề xuất trong y văn - Nguyễn Văn Huyên
- Lưu Văn Sùng
- Nguyễn Phú Trọng
- Đề xuất 5 giải pháp: nâng cao nhận thức; thể chế hóa thành quy chế; nâng cao chất lượng sinh hoạt; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; tăng cường kiểm tra, giám sát.
- Đề xuất 4 giải pháp: hệ thống thanh tra, kiểm soát quyền lực do đại hội bầu; thể chế dân chủ trong quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ; xây dựng nhà nước pháp quyền; hoàn thiện thể chế dân chủ trực tiếp và đại diện.
- Đề xuất 3 nhóm giải pháp: nhận thức đúng; quy chế hóa cụ thể; thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đấu tranh bảo đảm dân chủ.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là tiếp cận toàn diện vấn đề từ thế giới quan và phương pháp luận triết học mácxít, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ như một chỉnh thể hữu cơ có tính hệ thống; đồng thời kết hợp tri thức liên ngành từ Xây dựng Đảng, Chính trị học và Tổ chức học để giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung phân tích triết học tập trung vào mối quan hệ biện chứng giữa phạm trù "tập trung" và "dân chủ" trong tổ chức chính trị của giai cấp vô sản, trong đó dân chủ là cơ sở, tiền đề và mục đích, còn tập trung là phương thức, điều kiện và sự bảo đảm cho việc hiện thực hóa dân chủ.

Phương pháp luận chỉ đạo là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử: Tái hiện quá trình hình thành, phát triển quan điểm của V.Lênin qua các thời kỳ lịch sử của phong trào công nhân Nga và Quốc tế Cộng sản, đồng thời theo dõi sự tiến triển trong nhận thức, vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội từ năm 1986 đến nay.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các khía cạnh cấu thành nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tác phẩm kinh điển và văn bản của Đảng, từ đó tổng hợp thành các luận điểm lý luận và đánh giá thực tiễn.
  • Phương pháp so sánh và khái quát hóa: So sánh cách tiếp cận về thuật ngữ, mô hình tổ chức qua các giai đoạn lịch sử và giữa các tác giả nghiên cứu, khái quát thành các bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm:

  1. Các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.Lênin: Làm gì? (1902), Một bước tiến, hai bước lùi (1904), Thư gửi người đồng chí và những nhiệm vụ của chúng ta, Thư gửi đồng chí bí thư liên minh tuyên truyền xã hội chủ nghĩa (1915-1916), Nhà nước và cách mạng (1917), Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết (1918), Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản (1919), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội IX (1920), Thà ít mà tốt (1923), cùng các văn kiện tại Đại hội II (1903), Hội nghị Tammécpho (1905), Đại hội Thống nhất (1906) của Đảng Công nhân dân chủ - xã hội Nga.
  2. Hệ thống văn kiện, nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội I (1935), Đại hội II (1951), Đại hội III (1960), Đại hội VI (1986), Đại hội X (2006), Đại hội XI (2011), Đại hội XII (2016); các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XI, khóa XII; Nghị quyết Trung ương 5, Trung ương 6 khóa XII; cùng các bản Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  3. Các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, bài báo tạp chí chuyên ngành của các nhà lý luận, nhà nghiên cứu chính trị trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 4 chương nội dung được chia thành 13 tiết.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này thực hiện tổng hợp và phân tích 5 nội dung lớn từ y văn:

  • Khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài về quan điểm của V.Lênin (A.Xamôxuđốp, G.Vintecphen, V.Cơrípsích); phân tích tính quy luật của nguyên tắc tập trung dân chủ đối với sự thống nhất của đảng mácxít; trích xuất các tư liệu lịch sử về 6 nguyên tắc xây dựng Đảng của V.Lênin, bài học về sự vi phạm nguyên tắc tập thể lãnh đạo thời kỳ Gi.Xtalin.
  • Phân tích các công trình nghiên cứu trong nước về bản chất của chế độ tập trung dân chủ (Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Tiến Phồn, Nguyễn Phú Trọng); làm rõ thực chất chế độ tập trung dân chủ là cơ chế kết hợp hữu cơ giữa kỷ luật tập trung và dân chủ nội bộ, bắt nguồn từ đòi hỏi của nền sản xuất đại công nghiệp hiện đại.
  • Khảo cứu nguồn gốc và ngữ nghĩa của thuật ngữ: làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa các khái niệm "chế độ tập trung dân chủ", "nguyên tắc tập trung dân chủ" và "nguyên tắc dân chủ tập trung" (Mạch Quang Thắng, Bùi Phan Kỳ, Vũ Như Khôi); phân tích biến chuyển qua các kỳ Đại hội I, II, III của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Đánh giá các công trình nghiên cứu về thực tiễn vận dụng trong thời kỳ đổi mới: phân tích tấm gương mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh; luận chứng về "điều kiện tiên quyết" để thực hiện nguyên tắc (Mạch Quang Thắng, Nguyễn Phú Trọng); rút ra bài học kinh nghiệm từ sự sụp đổ của mô hình Xôviết và thành công của công cuộc đổi mới tại Việt Nam (Lưu Văn Sùng); chỉ ra những hạn chế, khuyết tật trong tổ chức sinh hoạt đảng cơ sở (Đặng Hữu Toàn, Đức Vượng, Trần Vũ Triêu).
  • Tổng thuật các nhóm giải pháp đã được đề xuất trong y văn (giáo dục nhận thức, quy chế hóa, kiểm tra giám sát và kiểm soát quyền lực) và xác định rõ khoảng trống nghiên cứu triết học mà đề tài đảm nhận.

Chương 2: Quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ

Chương 2 trình bày hệ thống quan điểm lý luận của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ thông qua việc phân tích các tác phẩm kinh điển:

  • Quan niệm về tập trung trong Đảng: Tập trung gắn liền với tính tổ chức, tính kỷ luật và sự phục tùng tuyệt đối của đảng viên trên cơ sở tự giác. V.Lênin khẳng định: "Tổ chức làm cho sức mạnh tăng thêm gấp mười lần". Tập trung bảo đảm cho cơ quan lãnh đạo cao nhất (Ban Chấp hành Trung ương) kiểm soát hoạt động toàn Đảng, ngăn ngừa chủ nghĩa phân tán, tiểu tổ và bè phái. Nguyên tắc bắt buộc là cá nhân phục tùng tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương và Đại hội.
  • Quan niệm về dân chủ trong Đảng: Dân chủ là sự tự do trong tổ chức, tự do suy nghĩ, thảo luận, bày tỏ chính kiến và tham gia quyết định các công việc của Đảng. Dân chủ phải gắn liền với tính công khai hoàn toàn; đề cao trách nhiệm cá nhân; tôn trọng những đảng viên có chính kiến độc lập, có năng lực phản biện xây dựng; kiên quyết loại bỏ tác phong quan liêu và thói cơ hội chủ nghĩa. V.Lênin nhấn mạnh phương châm: "Tự do thảo luận, thống nhất hành động".
  • Quan điểm tập trung và dân chủ trong đảng kiểu mới: Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt, phân biệt chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân với các đảng phái cơ hội, biến đảng thành một thực thể chiến đấu có tổ chức thay vì một "câu lạc bộ tranh luận". Luận án chỉ ra hai tầng nghĩa trong quan điểm của V.Lênin: (1) Với tư cách nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng kiểu mới; (2) Với tư cách chế độ quản lý nhà nước của chuyên chính vô sản.
  • Các nguyên tắc phái sinh và bổ trợ:
    1. Chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách: Thảo luận tập thể đối với các vấn đề cơ bản, nhưng phân định trách nhiệm cá nhân rành mạch, chính xác đối với từng phần việc cụ thể; chống lại hiện tượng lấy cớ lãnh đạo tập thể để trốn tránh trách nhiệm cá nhân.
    2. Tự phê bình và phê bình: Là quy luật phát triển của chính đảng cách mạng, là công cụ bộc lộ và khắc phục khuyết điểm một cách không khoan nhượng nhằm làm trong sạch nội bộ.
    3. Đảng là đội tiên phong có tổ chức, lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội: Đảng tập hợp những phần tử ưu tú nhất của giai cấp công nhân, liên hệ mật thiết với quần chúng, lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị nhưng không bao biện, làm thay các cơ quan nhà nước.

Chương 3 và Chương 4: Thực trạng vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả

Theo cấu trúc nhiệm vụ nghiên cứu và phân tích tổng quan của luận án:

  • Phân tích thực trạng vận dụng quan điểm của V.Lênin trong thực tiễn đổi mới của Đảng: Ghi nhận những thành tựu to lớn trong việc giữ vững bản chất cách mạng, duy trì sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, mở rộng dân chủ trong sinh hoạt chi bộ, tăng cường tiếp dân và đối thoại trực tiếp, xây dựng thể chế và quy chế công tác. Đồng thời, chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm nghiêm trọng: tình trạng tập trung quan liêu, chuyên quyền độc đoán ở một số cấp ủy; hiện tượng dân chủ hình thức, né tránh va chạm, "dĩ hòa vi quý"; tình trạng vi phạm nguyên tắc tập thể lãnh đạo để cục bộ, tham nhũng; các sai phạm trong công tác cán bộ dẫn đến kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao (như các trường hợp Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh); hiện tượng vi phạm kỷ luật sinh hoạt đảng ở cơ sở (chi bộ bỏ sinh hoạt định kỳ, không chấp hành chỉ thị cấp trên).
  • Hệ thống hóa nguyên nhân: Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ nhận thức lý luận chưa sâu sắc về bản chất biện chứng của chế độ tập trung dân chủ; thiếu các quy chế vận hành cụ thể; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Tăng cường giáo dục lý luận, nâng cao nhận thức thống nhất cho cán bộ, đảng viên về bản chất khoa học của chế độ tập trung dân chủ theo học thuyết Lênin.
    2. Thể chế hóa và cụ thể hóa nguyên tắc thành các quy chế, quy định rành mạch về chức trách, quyền hạn, chế độ làm việc và mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách.
    3. Đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng và thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; coi việc đóng góp ý kiến xây dựng là tiêu chuẩn đánh giá đảng viên.
    4. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực chặt chẽ trong nội bộ Đảng và trong hệ thống chính trị; thực hiện tinh thần thượng tôn pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
    5. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy dân chủ thực chất đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học, luận án tự xác định ba đóng góp mới:

  • Thứ nhất, luận án góp phần hệ thống hóa quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ, làm rõ thực chất, cấu trúc nội dung cơ bản của quan điểm này dưới góc độ bản thể luận và nhận thức luận triết học mácxít, phân định rõ hai tầng nghĩa của nguyên tắc trong xây dựng Đảng và quản lý nhà nước.
  • Thứ hai, luận án làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của thực trạng vận dụng quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay.
  • Thứ ba, luận án đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp có căn cứ khoa học nhằm tăng cường hiệu quả vận dụng quan điểm của V.Lênin về chế độ tập trung dân chủ, đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới theo tinh thần các Nghị quyết Trung ương 4, 5, 6 khóa XII.

Về mặt kiến nghị và giải pháp thực tiễn, luận án đề xuất các định hướng cụ thể:

  • Thực hiện nghiêm túc mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, khắc phục triệt để hai khuynh hướng lệch lạc: tập trung quan liêu độc đoán và tự do vô chính phủ, dân chủ hình thức.
  • Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực độc lập và hiệu lực trong nội bộ Đảng; hoàn thiện quy trình công tác cán bộ bảo đảm công khai, minh bạch để ngăn chặn tệ "chạy chức, chạy quyền", cục bộ bè phái.
  • Bảo đảm "điều kiện tiên quyết" cho việc thực thi nguyên tắc bằng cách giữ gìn sự trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, bảo đảm đa số đảng viên trong tổ chức là những tấm gương kiên định, liêm chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu từ giác độ triết học, luận án tập trung làm rõ các chiều cạnh lý luận và thực tiễn của chế độ tập trung dân chủ trong nội bộ Đảng Cộng sản, không đi sâu phân tích chi tiết kỹ thuật tổ chức bộ máy nhà nước hoặc các quy trình hành chính công của các tổ chức chính trị - xã hội khác. Đồng thời, nguồn tài liệu khảo sát về thực tiễn vận dụng tập trung vào khung thời gian từ năm 1986 đến thời kỳ triển khai các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài gợi mở việc tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát liên ngành:

  • Kết hợp nghiên cứu triết học với khoa học Xây dựng Đảng, Chính trị học và Xã hội học tổ chức để xây dựng các mô hình định lượng đánh giá mức độ thực hành dân chủ và kỷ luật tập trung tại các loại hình tổ chức cơ sở đảng khác nhau.
  • Nghiên cứu sâu hơn cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học mácxít, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Chính trị học, Triết học chính trị.
  • Cán bộ làm công tác tổ chức, tuyên giáo, kiểm tra Đảng các cấp trong việc nghiên cứu, quán triệt và xây dựng các quy chế làm việc của cấp ủy, quy chế sinh hoạt chi bộ.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị quan tâm đến vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và kiểm soát quyền lực trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền.

Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:

  • Hệ thống trích dẫn và luận giải các tác phẩm kinh điển của V.Lênin về nguyên tắc tập trung dân chủ, mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách.
  • Bảng tổng lược lịch sử và ngữ nghĩa học thuật của thuật ngữ "chế độ tập trung dân chủ" và "nguyên tắc dân chủ tập trung" qua các thời kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phân tích các luận điểm về "điều kiện tiên quyết" và các giải pháp phòng ngừa sự thoái hóa quyền lực trong công tác cán bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo văn bản luận án, V.Lênin định nghĩa thế nào về mối quan hệ giữa tập trung và dân chủ trong Đảng?
Trong các tác phẩm kinh điển, V.Lênin chỉ rõ tập trung dân chủ là "tự do trong thảo luận nhưng thống nhất trong hành động". Tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chứng không thể tách rời của một nguyên tắc; dân chủ là cơ sở, tiền đề và mục đích, còn tập trung là phương thức và điều kiện bảo đảm sức mạnh hành động của Đảng.

2. Thuật ngữ "Democraticheskii centralism" được dịch nghĩa và tiếp nhận như thế nào trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam?
Văn bản nêu rõ cụm từ Democraticheskii centralism (gốc tiếng Nga) với đuôi "-ism" có nghĩa chuẩn xác là "chế độ tập trung mang tính dân chủ" (centralisme démocratique trong tiếng Pháp, democratic centralism trong tiếng Anh). Trong lịch sử Đảng ta, từ Đại hội I (1935) đến Đại hội II (1951), văn kiện Đảng dùng thuật ngữ "dân chủ tập trung" do ảnh hưởng của cách diễn đạt Hán - Việt. Từ Đại hội III (1960) trở đi, Đảng chính thức sử dụng thuật ngữ "tập trung dân chủ".

3. "Điều kiện tiên quyết" khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ được luận án chỉ ra là gì?
Văn bản dẫn luận giải của các nhà nghiên cứu khẳng định: điều kiện tiên quyết để thực hiện đúng nguyên tắc "thiểu số phục tùng đa số" là tổ chức đảng phải trong sạch, vững mạnh và số đảng viên tốt phải chiếm đa số. Nếu trong một tổ chức bị thoái hóa, biến chất mà những phần tử cơ hội chiếm đa số thì việc thực hiện nguyên tắc hình thức sẽ dẫn đến việc loại bỏ những người tốt, làm tổ chức suy yếu và tan rã.

4. Luận án trích dẫn những ví dụ thực tiễn cụ thể nào về vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ?
Văn bản dẫn ra các vụ việc sai phạm nghiêm trọng được chỉ rõ trong các kết luận kỷ luật cán bộ cấp cao của Đảng, cụ thể là trường hợp của Trịnh Xuân Thanh (nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Hậu Giang) và Nguyễn Xuân Anh (nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng), xuất phát từ sự buông lỏng nguyên tắc, giảm sút tự phê bình và phê bình, làm đúng quy trình hình thức nhưng thiếu bản chất dân chủ thực tế.

5. V.Lênin đưa ra những chỉ dẫn gì về mối quan hệ giữa lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân?
V.Lênin chỉ rõ: "Thảo luận thì thảo luận chung, nhưng trách nhiệm là của từng người". Lãnh đạo tập thể là cần thiết để bàn bạc các quyết sách lớn, nhưng phải gắn chặt với chế độ trách nhiệm cá nhân được phân công rành mạch; Người kịch liệt phê phán hiện tượng lấy cớ lãnh đạo tập thể để trốn tránh trách nhiệm và coi đó là một tai hại nguy hiểm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ đã thực hiện một công trình nghiên cứu hệ thống từ giác độ triết học về quan điểm của V.Lênin đối với chế độ tập trung dân chủ và quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Bằng việc phân tích sâu sắc các tác phẩm kinh điển và hệ thống văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, tác giả đã làm rõ bản chất biện chứng của nguyên tắc, phân tích thực trạng thành tựu cũng như những hạn chế gay gắt trong công tác xây dựng Đảng và quản lý cán bộ. Các nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị phục vụ trực tiếp cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay.