Chương 1 Những vấn đề chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và Pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 1. Những vấn đề chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, kinh tế nhà nước đã trở thành một bộ phận quan trọng có tác dụng thiết thực trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Khu vực kinh tế nhà nước giữ một vai trò như một công cụ kinh tế của nhà nước, vừa thực hiện chức năng kinh tế, vừa thực hiện chức năng xã hội, góp phần thực hiện sự tăng trưởng và ổn định kinh tế của mỗi nước.
Do vậy, không một nước nào lại không sử dụng các doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực quan trọng nhằm thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt vì lợi ích xã hội. Tuy nhiên, kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển của nó đã bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Việc đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước để thích ứng với các đòi hỏi của nền kinh tế thị trường là một yêu cầu đặt ra đối với tất cả các nước đặc biệt là các nước đang phát triển. Một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Quá trình cổ phần hóa ở các nước này đã góp phần khắc phục hạn chế và yếu kém trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, là một đòi hỏi khách quan nhằm để đáp ứng những yêu cầu về cải cách, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước cho phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Xét về bản chất kinh tế, cổ phần hóa là việc nhà nước hoặc giữ nguyên vốn hiện có trong doanh nghiệp nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán bớt một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán. Tại Việt Nam, Điều 3, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ đã quy định cụ thể các hình thức cổ phần hóa công ty nhà nước gồm có: - Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có nhu cầu tăng thêm vốn điều lệ. - Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn [23, tr. Xét về mặc cấu trúc sở hữu, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước, chuyển doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu với mục đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của doanh nghiệp theo sự phát triển của kinh tế - xã hội. Sự chuyển hóa này không phải chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà là sự thay đổi căn bản trên ba mặt: Thứ nhất, chuyển hóa quyền sở hữu (từ đơn sở hữu sang đa sở hữu). Từ đó dẫn đến việc thay đổi cả quyền quản lý điều hành doanh nghiệp, tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa ba quyền liên quan đến vốn và tài sản của doanh nghiệp.
Đây cũng là điều kiện thiết yếu để đảm bảo quyền làm chủ thực sự của những người góp vốn và để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ hai, thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ. Với cơ cấu tổ chức chặt chẽ gồm đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành đã có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau, công ty cổ phần có khả năng bảo đảm hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ ba, thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa nhà nước và doanh nghiệp.
Từ chỗ doanh nghiệp nhà nước bị chi phối toàn diện bởi nhà nước (nhà nước là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ trước đây) sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được đề cao. Điều 1, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16//11/2004 của Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu, yêu cầu của việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần là: 1. Chuyển đổi công ty nhà nước mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp [23, tr.
Xét về mặt pháp lý, cổ phần hóa là việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình thực hiện đa dạng hóa sở hữu, chuyển các doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu của nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia mua cổ phiếu. Đặc điểm pháp lý của cổ phần hóa Qua khái niệm trên, có thể thấy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có những đặc điểm pháp lý sau: Thứ nhất, cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần hay còn gọi là đa sở hữu. Trước khi cổ phần hóa, toàn bộ vốn của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.
Hội đồng quản trị (đối với doanh nghiệp có hội đồng quản trị) hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp không có hội đồng quản trị) là đại diện sở hữu trực tiếp của nhà nước tại doanh nghiệp. Họ không phải là chủ sở hữu thực sự mà chỉ là người được nhà nước giao quyền quản lý và khai thác tài sản mà nhà nước đã đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và các mục tiêu kinh tế - xã hội mà nhà nước giao. Khi tiến hành cổ phần hóa, nhà nước sẽ tiến hành xác định giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, xác định số lượng cổ phiếu phát hành thông qua hình thức bán một phần vốn nhà nước hoặc giữ nguyên phần vốn nhà nước và phát hành cổ phiếu ra bên ngoài để thu hút vốn cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp bán cổ phiếu của mình cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Những người mua cổ phiếu trở thành cổ đông của công ty cổ phần, có quyền sở hữu chung đối với công ty, tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp trong vốn điều lệ, đồng thời phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty. Các cổ đông góp vốn sẽ thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua đại hội cổ đông và được giới thiệu đại diện tham gia ứng cử hội đồng quản trị của công ty cổ phần nếu đủ điều kiện do điều lệ công ty quy định. Hiện nay, theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam đều có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hóa với số lượng không hạn chế; còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài hoạt động hợp pháp ở Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam [23, tr. Việc chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước từ hình thức sở hữu đơn nhất sang hình thức đa sở hữu đã thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp thay đổi căn bản phương thức quản lý điều hành doanh nghiệp, nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc biệt làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vì lợi ích của các cổ đông công ty và sự phát triển lâu dài, bền vững của công ty cổ phần.
Thứ hai, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là một doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa sẽ không tồn tại dưới loại hình doanh nghiệp nhà nước nữa mà chuyển sang loại hình công ty cổ phần. Khác với doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa, doanh nghiệp sau khi chuyển đổi hình thức hoạt động sang công ty cổ phần thì địa vị pháp lý của doanh nghiệp đó được xác định theo pháp luật về công ty cổ phần, được quy định trong Luật Doanh nghiệp. Toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp từ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến việc thành lập, giải thể, phá sản đều được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa được thực hiện theo cơ chế chủ quản có nghĩa là cơ chế cấp trên cấp dưới quan hệ chủ yếu mang nặng cơ chế hành chính, thiếu sự bình đẳng về lợi ích. Các quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp rất khắt khe, làm triệt tiêu quyền chủ động và sáng tạo của doanh nghiệp. Khi chuyển sang công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, cơ quan cao nhất của công ty là đại hội đồng cổ đông. Công ty được quản lý bởi hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra và được điều hành bởi giám đốc (hoặc tổng giám đốc) được hội đồng quản trị bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng thuê.
Các quy định của Luật Doanh nghiệp về quản lý công ty cổ phần có tính chất mềm dẻo, linh hoạt và tạo cơ chế cho công ty cổ phần được phát huy quyền chủ động trong hoạt động của doanh nghiệp vì lợi ích của các công ty và của các cổ đông công ty.