Chương 1 KHÁI QUÁT VE TO CHỨC QUAN LÝ NỘI BỘ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ PHAP LUẬT VE TO CHỨC QUAN LÝ NỘI BỘ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước trong Luật doanh nghiệp năm 2014 — bước tiễn mới trong việc thông nhất cách hiểu về doanh nghiệp nhà nước Ở Việt Nam, cho đến trước thời điểm LDN năm 2014 được ban hành, có rất nhiều quan điểm khác nhau về DNNN được ghi nhận trong các văn bản pháp luật. Sự khác nhau là do góc độ nhìn nhận khác nhau và vi trí khác nhau của người quan sát khi tiếp cận DNNN.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân là tư tưởng chi phối, DNNN là tô chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, đóng vai trò là “cỗ máy cái” trong mọi khu vực, lĩnh vực của nên kinh tế quốc dân. Như tên gọi của nó, DNNN là thuộc sở hữu nhà nước (công hữu), và được điều hành, kiểm soát về mọi phương diện bởi Nhà nước. Quan điểm này cũng tương đồng với định nghĩa về DNNN của Ngân hang thế giới đó là “DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ” [35, tr. Mặc dù có lịch sử hình thành lâu đời từ những năm sau khi đất nước giành độc lập tuy nhiên phải cho đến khi Luật DNNN năm 1995 ra đời, DNNN mới được luật hóa.
Cụ thể, Luật DNNN 1995 định nghĩa DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tô chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN trong thời kỳ này có thể tồn tại dưới các hình thức: Doanh nghiệp độc lập, Tổng công ty (TCT), Doanh nghiệp thành viên của TCT. Tiếp theo đó, Luật DNNN năm 2003 ra đời thay thế Luật DNNN năm 1995 cũng đưa ra định nghĩa về DNNN. Cụ thê Luật DNNN năm 2003 quy định DNNN là tô chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phan, phần vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước (CTNN), công ty cổ phần (CTCP), công ty trách nhiệm hữu hạn (Công ty TNHH).
Định nghĩa này của Luật DNNN năm 2003 chứa đựng nhiều điểm mới phan ánh những thay đổi khá cơ bản trong nhận thức của các nha lập pháp và hoạch định chính sách của nước ta đối với thành phần kinh tế nhà nước cũng như các thành phần kinh tế khác [23, tr. Tuy nhiên, với mục đích hạn chế tình trạng chồng chéo của các văn bản pháp luật, nhằm xây dựng một luật chung thống nhất về doanh nghiệp, Quốc hội đã ban hành LDN năm 2005, thay thế cho LDN năm 1999, Luật DNNN năm 2003. Theo đó, các DNNN đang hoạt động theo Luật DNNN 2003 sẽ có bốn (04) năm dé chuyên đổi thành công ty trách nhiệm hữu han hoặc công ty cô phan theo quy định của LDN 2005 (Khoản 1, Điều 166). Như vậy, trước khi việc chuyên đổi DNNN hoàn thành thì DNNN tôn tại dưới các mô hình theo cả hai luật (Luật DNNN 2003 và LDN năm 2005) gồm: DNNN (DNNN độc lập và TCT nhà nước), CTCP nhà nước; công ty TNHH nhà nước một thành viên; công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên; Doanh nghiệp có cô phan, vốn góp chi phối của Nhà nước — là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyên chi phối đối với doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp có một phan vốn của nhà nước, nhưng phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chỉ chiếm từ 50% trở xuống, thì không được gọi là DNNN. Sau khi tất cả các DNNN được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật DNNN đã được chuyên đôi thành CTCP hoặc công ty TNHH, thì Luật DNNN năm 2003 cũng cham dứt sự t6n tại và giá tri pháp lý của nó, mô hình DNNN không còn tồn tại nữa. Cũng có người lầm tưởng rằng, sau khi các DNNN đã được chuyên đôi xong, Luật DNNN đã hoàn toàn chấm dứt sự t6n tại thì không còn khái niệm, tên gọi DNNN nữa. Đó là một nhận thức không đúng.
DNNN sẽ vẫn tôn tại, tên gọi DNNN sẽ vẫn còn như nó đã từng có, chỉ có các mô hình tô chức pháp lý doanh nghiệp dưới hình thức DNNN là không còn nữa. Tuy nhiên, các DNNN cũng không còn hoạt động theo một luật riêng, một sân chơi riêng mà phải hòa cùng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong một sân chơi chung, một môi trường pháp lý bình đẳng, với mô hình tổ chức, quan trị công ty giống nhau. Điều khác biệt giữa chúng chi là vấn đề cơ cấu sở hữu trong công ty [49]. Trước các cách hiểu khác nhau về DNNN nêu trên, để phù hợp với sự thay đổi của tình hình mới đặt ra nhu cầu cần phải có một cách nhìn rõ ràng thống nhất về DNNN.
Bởi vậy LDN năm 2014 đã đưa ra quy định thống nhất về DNNN đó là “doanh nghiệp do Nhà nước nam giữ 100% vốn điêu 1é” (Khoản 8, Điều 3). Quy định này đã thu hẹp phạm vi các DNNN hơn tất nhiều so với Luật DNNN năm 2003. Liên quan đến cách nhìn mới về DNNN trong LDN năm 2014, có hai quan điểm trái chiều. Quan điểm thứ nhất dé nghị thống nhất khái niệm DNNN là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; còn doanh nghiệp có vốn khác của Nhà nước, dù là vốn Nhà nước chi phối, thì gọi là CTCP hoặc công ty TNHH có vốn Nhà nước.
Ngược lại, quan điểm thứ hai đề nghị giữ nguyên cách gọi DNNN đã thành thông lệ [58, tr. Về van dé này, Uy ban thường vụ Quốc hội đã xây dựng khái niệm DNNN theo hướng thứ nhất, đó là LDN năm 2014 sẽ dành một chương riêng để quy định về tổ chức quản lý, tô chức lại và giải thé đối với doanh nghiệp do Nhà nước nam giữ 100% vốn điều lệ. Đối với các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ dưới 100% vốn điều lệ, kế cả trong trường hợp vốn Nhà nước chi phối thi nhà nước chỉ tham gia với tư cách là một đồng chủ sở hữu, cổ đông của doanh nghiệp như các đồng chủ sở hữu, cô đông khác của doanh nghiệp; quản tri trong các doanh nghiệp thuộc loại này không có khác biệt. Do vậy, việc tổ chức quản lý của các doanh nghiệp này thực hiện theo quy định tương ứng tại các chương, điều khác của LDN.
Theo quan điểm cá nhân của người viết thì cách hiểu mới trong LDN năm 2014 là hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế khi Chính phủ đang trong giai đoạn gấp rút thực hiện tái cơ cầu các DNNN để tô chức, cơ cấu lại nền kinh tế. Thu hẹp phạm vi các DNNN cũng chính là thu hẹp phạm vi tham gia cua Nhà nước vào việc điều hành, hoạt động của các doanh nghiệp, để các doanh nghiệp có thể tự phát huy được các thế mạnh của mình trong kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh lành 10 mạnh giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời giảm bớt gánh nặng về ngân sách cũng như nhân lực cho nhà nước khi tham gia đầu tư vào các doanh nghiệp này. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp năm 2014 Thứ nhất, về sở hữu vốn: Khác với DNNN theo Luật DNNN năm 2003, đó là bên cạnh những doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thì những doanh nghiệp do nhà nước đầu tư nam cô phan, vốn góp chi phối cũng được coi là DNNN, LDN năm 2014 xác định rõ chỉ những doanh nghiệp do nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ mới được coi là DNNN. Điều này có nghĩa, các doanh nghiệp mà nhà nước nam cô phan, vốn góp chi phối trước đây vô hình chung sẽ không còn tu cách là DNNN nữa, mà được hoạt động độc lập với tư cách là các công ty TNHH hoặc CTCP (Khoản 2, Điều 88).
Thứ hai, về hình thức tổ chức: Theo quy định của pháp luật trước năm 2014 DNNN tồn tại dưới nhiều loại hình khác nhau như CTNN, CTCP nhà nước, công TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước từ hai thành viên trở lên, doanh nghiệp có cổ phan, vốn góp chi phối của Nhà nước. Nhưng theo quy định của LDN năm 2014 thì hiện nay DNNN chỉ có một hình thức tổ chức duy nhất là công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu bao gồm: các công ty mẹ của TDKT nhà nước, công ty me cua TCT nhà nước, công ty me trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty TNHH một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014). Thứ ba, về quyền quyết định hoặc quyền chi phối đối với doanh nghiệp: Khác với quy định của pháp luật trước đây, LDN năm 2014 thừa nhận sự tôn tại bình đăng của các hình thức sở hữu trong một doanh nghiệp. Điều này có nghĩa các hình thức sở hữu khác nhau trong doanh nghiệp sẽ hoàn toàn bình đăng với nhau trên nguyên tắc của nền dân chủ cỗ phan; dù là Nhà nước hay các nhà đầu tư tư nhân nếu góp nhiều vốn thì có nhiều khả năng chi phối doanh nghiệp.
Theo cách hiểu thống nhất trong LDN năm 2014 về DNNN nêu trên thì Nhà nước là nhà đầu II tư duy nhất trong DNNN do đó, Nhà nước cũng là chủ thể duy nhất nắm quyền quyết định và chi phối các van đề về tổ chức và quản lý DNNN của riêng minh và không chia sẻ quyền lực đó cho cá nhân, tổ chức khác. Thứ tư, về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: DNNN theo LDN năm 2014 cũng được coi là một tô chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có lãi để tồn tại và phát triển. DNNN có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm băng tài sản đó về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình (trách nhiệm hữu hạn). Như vậy, DNNN độc lập cả về hai mặt kinh tế và pháp lý.