Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Ngọc Liêm thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2002, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Đăng Huệ và PGS. TS. Nguyễn Như Phát, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế.
Về tính cấp thiết, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000) đã tạo lập khung khổ pháp lý thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các chủ thể kinh doanh. Sau 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, nền kinh tế đã ghi nhận 29.724 doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đầu tư đạt khoảng 33.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cũng bộc lộ nhiều hiện tượng tiêu cực như: doanh nghiệp đăng ký trụ sở không có thật, doanh nghiệp không hoạt động tại trụ sở đăng ký, người thành lập vi phạm điều kiện về nhân thân hoặc kê khai khống vốn điều lệ. Trước thực trạng đó, trong giới nghiên cứu và quản lý xuất hiện quan điểm đề xuất "xiết lại" các quy định của Luật Doanh nghiệp. Đồng thời, bản thân các quy phạm của Luật Doanh nghiệp vẫn còn những điểm khiếm khuyết trong mối tương quan với các lĩnh vực pháp luật khác.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu có tính hệ thống, đồng bộ về pháp luật công ty gắn liền với toàn bộ các bộ phận pháp luật bổ trợ (như chế độ đăng ký kinh doanh, quản lý giấy phép kinh doanh, hợp đồng kinh tế và cơ chế công ty hóa doanh nghiệp nhà nước).
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu có hệ thống các tiền đề kinh tế - xã hội, phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999 cùng thực tiễn 2 năm thi hành, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty và các ngành luật có liên quan.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Lý giải đầy đủ, có hệ thống các tiền đề kinh tế, xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển của các loại hình công ty.
- Khảo sát, phân tích toàn diện các quy định pháp luật hiện hành về công ty trong văn bản và hiệu lực thực thi trong thực tiễn sản xuất kinh doanh.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị, giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp luật nhằm kiến tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các loại hình công ty tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận chung về công ty, pháp luật về công ty và các vấn đề pháp lý phát sinh từ thực tiễn thi hành Luật Doanh nghiệp cùng hệ thống văn bản hướng dẫn. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian kinh tế - pháp lý Việt Nam (có đối chiếu kinh nghiệm lịch sử và quốc tế), trong mốc thời gian trọng tâm là 2 năm đầu thực thi Luật Doanh nghiệp 1999 (2000 - 2002). Về nội dung, luận án không đi sâu vào mảng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP do đã có nhiều công trình nghiên cứu trước đó, mà tập trung nghiên cứu hình thức chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Nghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 08/11/2001.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân chia quá trình nghiên cứu pháp luật về công ty ở Việt Nam thành 3 giai đoạn cơ bản:
- Giai đoạn trước năm 1975: Tập trung chủ yếu tại Miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa. Công trình có giá trị tham khảo tiêu biểu là cuốn "Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải" do Lê Tài Triển chủ biên (Nhà xuất bản Kim Lai Ấn Quán, 1973) và cuốn "Nhà buôn nên biết về Luật Thương mại" của Luật sư Trịnh Đình Thảo (Sài Gòn, 1956). Các công trình này đã hệ thống hóa các quy chế pháp lý về công ty thương mại theo truyền thống Dân luật của Pháp.
- Giai đoạn từ năm 1990 đến trước năm 1999: Khởi đầu từ khi Quốc hội ban hành Luật Công ty năm 1990. Công trình tổng kết có giá trị nhất của giai đoạn này là nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) xuất bản năm 1998 mang tên "Đánh giá tổng kết Luật Công ty và kiến nghị những định hướng sửa đổi chủ yếu". Công trình đã chỉ rõ những điểm yếu kém của Luật Công ty 1990 và gợi mở các định hướng sửa đổi căn bản.
- Giai đoạn từ sau khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999: Xuất hiện nhiều bài viết, báo cáo khảo sát làm sáng tỏ các điểm mới tiến bộ của Luật Doanh nghiệp, cung cấp số liệu thực tế về việc thành lập các loại hình công ty và bước đầu nhận diện các bất cập phát sinh.
Vị trí của luận án được xác lập nhằm giải quyết khoảng trống học thuật: các nghiên cứu giai đoạn trước chủ yếu tiếp cận từng khía cạnh đơn lẻ, thiếu tính đồng bộ và chưa bao quát mối liên hệ giữa các quy định nội dung của Luật Doanh nghiệp với quy chế công ty hóa doanh nghiệp nhà nước và các chế định pháp luật kinh tế bổ trợ (như cấp phép, đăng ký kinh doanh, hợp đồng). Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về pháp luật công ty trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế sang cơ chế thị trường tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, vai trò tác động trở lại của pháp luật đối với đời sống kinh tế và tính quy định của trình độ phát triển lực lượng sản xuất đối với sự hình thành quan hệ pháp luật. Luận án quán triệt đường lối, chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 về thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, tự do kinh doanh và quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh.
Khung phân tích lý thuyết và các khái niệm cốt lõi bao gồm:
- Lý thuyết về tiền đề kinh tế - xã hội của công ty thương mại.
- Các học thuyết về tư cách pháp nhân: thuyết pháp nhân giả tạo (xem pháp nhân là một cấu tạo pháp lý trừu tượng cần sự thừa nhận của công quyền) và thuyết pháp nhân thực tế (xem pháp nhân là một thực thể xã hội tồn tại khách quan có ý chí và hành vi độc lập).
- Hệ thống tiêu chí phân loại công ty: công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty trách nhiệm vô hạn (dựa trên phạm vi nghĩa vụ tài sản); công ty đối nhân (hợp nhân) và công ty đối vốn (hợp vốn).
- Các thuộc tính pháp lý cơ bản của công ty: tên gọi, trụ sở, quốc tịch và năng lực chủ thể.
Phương pháp nghiên cứu được luận án sử dụng bao gồm các phương pháp định tính chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các điều khoản của các đạo luật, nghị định để làm rõ bản chất pháp lý của từng quy phạm.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 với Luật Công ty 1990; so sánh các quy chế pháp lý trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972, pháp luật thời Pháp thuộc và thông lệ quốc tế để rút ra các giá trị kế thừa.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa từ các hiện tượng thực tiễn thành những quy luật chung về sự vận động của pháp luật công ty.
Nguồn dữ liệu và tư liệu pháp lý phục vụ nghiên cứu gồm:
- Các văn bản lịch sử: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, các Sắc lệnh áp dụng Bộ luật Thương mại Pháp tại Nam Kỳ (1864), Bắc Kỳ (1888), Bộ luật Thương mại Trung Kỳ (1942/1944), Bộ luật Thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1972 (Sắc luật số 029-TT-SLU).
- Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành: Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Đất đai 1993, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Các tổ chức tín dụng 1997, Nghị định số 03/2000/NĐ-CP, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, Nghị định số 63/2001/NĐ-CP.
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo ngày 25/03/2001 của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và số liệu thống kê đăng ký kinh doanh giai đoạn 2000 - 2002.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về công ty và pháp luật về công ty
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ bản chất kinh tế - pháp lý của công ty và tiến trình phát triển lịch sử của pháp luật công ty tại Việt Nam.
Tác giả luận giải 4 tiền đề kinh tế - xã hội khách quan quyết định sự ra đời của công ty:
- Nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh: Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi lượng vốn lớn vượt quá khả năng tài chính của từng thể nhân hoặc gia đình, buộc các thương nhân phải liên kết, hùn vốn.
- Sự cạnh tranh trên thương trường: Áp lực cạnh tranh buộc các nhà kinh doanh phải tích tụ vốn để tạo lập ưu thế tài chính lớn hơn đối thủ.
- Nhu cầu phân tán và hạn chế rủi ro: Môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro khách quan và chủ quan, dẫn đến nhu cầu "bỏ trứng vào nhiều giỏ" và áp dụng chế độ trách nhiệm hữu hạn để bảo toàn tài sản cá nhân.
- Nhu cầu luân chuyển và chuyển dịch vốn đầu tư: Nhà đầu tư cần công cụ linh hoạt để có thể nhanh chóng rút vốn từ ngành nghề kém hiệu quả sang lĩnh vực có khả năng sinh lời cao hơn, đặc biệt thông qua việc chuyển nhượng phần vốn góp hoặc phát hành và mua bán cổ phần.
Về đặc trưng pháp lý, công ty được cấu thành bởi 3 dấu hiệu:
- Là sự liên kết của nhiều người (thể nhân hoặc pháp nhân), trừ trường hợp công ty TNHH một thành viên.
- Các thành viên phải góp tài sản để tạo lập khối tài sản riêng biệt thuộc quyền sở hữu của pháp nhân công ty, tách bạch với tài sản cá nhân của từng thành viên.
- Mục đích tối thượng của việc thành lập là tìm kiếm lợi nhuận và phân chia lợi nhuận cho các thành viên, giúp phân biệt công ty với các hiệp hội dân sự phi lợi nhuận.
Về phân loại, luận án phân tích hai cặp phạm trù:
- Dựa trên phạm vi chịu trách nhiệm: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty trách nhiệm vô hạn.
- Dựa trên yếu tố quyết định sự liên kết: Công ty đối nhân (như công ty hợp danh, coi trọng nhân thân thành viên, hạn chế chuyển nhượng vốn) và công ty đối vốn (như công ty cổ phần, coi trọng phần vốn góp, tự do chuyển nhượng cổ phần).
Về các thuộc tính của pháp nhân công ty:
- Thời điểm phát sinh tư cách pháp nhân: Theo Điều 17 Luật Doanh nghiệp 1999, công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Tên gọi và trụ sở: Là dấu hiệu định danh và xác lập thẩm quyền tài phán của Tòa án khi phát sinh tranh chấp.
- Quốc tịch của công ty: Luận án phân tích sự bất cập trong quy định hiện hành thông qua vụ việc tranh chấp về quyền nhận thế chấp quyền sử dụng đất của ngân hàng liên doanh (theo Luật Đất đai 1993, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Các tổ chức tín dụng 1997). Tác giả bảo vệ quan điểm: một khi doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam thì mang quốc tịch Việt Nam, không phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài.
Khảo sát lịch sử pháp luật công ty ở Việt Nam qua 4 thời kỳ:
- Thời kỳ phong kiến: Nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc, tư tưởng trọng Nho khinh Thương và chính sách bế quan tỏa cảng khiến pháp luật thời phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) chỉ tập trung vào hình sự và dân sự hộ tịch, hoàn toàn vắng bóng luật thương mại và luật công ty.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Người Pháp đưa Bộ luật Thương mại Pháp vào áp dụng tại Nam Kỳ (1864), Bắc Kỳ (1888) và triều đình Huế ban hành Bộ luật Thương mại Trung Kỳ (1942). Pháp luật giai đoạn này sao chép hoàn toàn mô hình của Pháp (Bộ luật Thương mại Napoléon 1807).
- Thời kỳ Miền Nam trước 1975: Bộ luật Thương mại năm 1972 gồm 5 quyển, 1051 điều (Quyển 2 gồm 196 điều về công ty) ghi nhận các loại hình: Hội hợp danh, Hội hợp tư đơn thường, Hội trách nhiệm hữu hạn, Hội cổ phần; phân định hành vi thương mại thuần túy và hành vi thương mại phụ thuộc; quy định khái niệm túc số và túc số trùng điệp.
- Thời kỳ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Giai đoạn 1955 đến trước 1986 duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, triệt tiêu các tiền đề kinh tế của công ty. Luật Công ty năm 1990 đánh dấu sự phục hồi của công ty nhưng bộc lộ 4 hạn chế lớn: chỉ thừa nhận 2 loại hình (công ty TNHH và công ty cổ phần); can thiệp hành chính quá mức (chế độ cấp phép thành lập, quy định vốn pháp định); cản trở chuyển nhượng vốn (Điều 25 yêu cầu sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện 3/4 vốn điều lệ); thiếu quy chế bảo vệ cổ đông thiểu số và quản trị nội bộ.
Chương 2: Luật Doanh nghiệp - Một bước phát triển mới của pháp luật về công ty ở nước ta
Chương 2 luận giải các bước tiến bộ mang tính lập pháp của Luật Doanh nghiệp năm 1999 so với Luật Công ty năm 1990 qua 4 nội dung:
- 2.1. Hoàn thiện cơ chế thành lập và đăng ký kinh doanh: Bãi bỏ hoàn toàn chế độ cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp mang tính "xin - cho", chuyển sang cơ chế đăng ký kinh doanh công khai, minh bạch theo luật định, giảm thiểu chi phí và thời gian gia nhập thị trường.
- 2.2. Tự do hóa hoạt động kinh doanh: Thừa nhận quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm; thu hẹp phạm vi các ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
- 2.3. Quy định bổ sung các mô hình công ty mới: Bổ sung loại hình công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đáp ứng nhu cầu đầu tư đa dạng của thị trường.
- 2.4. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý: Thiết lập cơ chế phân quyền rõ ràng trong công ty TNHH và công ty cổ phần; hoàn thiện quy trình biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông; thiết lập các công cụ kiểm soát nội bộ (Ban kiểm soát); sửa đổi quyền chuyển nhượng vốn tại Điều 32 theo hướng thành viên chỉ cần ưu tiên chào bán cho các thành viên còn lại, nếu không mua hết thì được quyền tự do chuyển nhượng ra bên ngoài mà không cần sự chấp thuận của đa số 3/4 vốn điều lệ như Điều 25 Luật Công ty 1990.
Bảng tổng hợp so sánh các nội dung cơ bản giữa hai đạo luật:
| Tiêu chí so sánh |
Luật Công ty năm 1990 |
Luật Doanh nghiệp năm 1999 |
| Các loại hình công ty |
Chỉ gồm 2 loại hình: Công ty TNHH và Công ty cổ phần |
Gồm 4 loại hình: Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty TNHH 1 thành viên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh |
| Thủ tục thành lập |
Áp dụng chế độ cấp giấy phép thành lập của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh |
Bãi bỏ giấy phép thành lập; áp dụng thủ tục đăng ký kinh doanh |
| Quy định số lượng thành viên công ty TNHH |
Không khống chế số lượng thành viên tối đa |
Giới hạn tối đa không quá 50 thành viên (Điều 26) |
| Quy định số cổ đông sáng lập công ty cổ phần |
Tối thiểu phải có 7 cổ đông |
Tối thiểu phải có 3 cổ đông |
| Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH |
Phải được sự đồng ý của số thành viên đại diện ít nhất 3/4 vốn điều lệ (Điều 25) |
Tự do chuyển nhượng cho người ngoài nếu các thành viên trong công ty không mua hoặc không mua hết (Điều 32) |
| Thời điểm phát sinh tư cách pháp nhân |
Không quy định cụ thể thời điểm |
Kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Điều 17) |
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty
Chương 3 đề xuất các phương hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung khung khổ pháp luật xoay quanh 4 nhóm vấn đề lớn:
- 3.1. Hoàn thiện chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh: Khắc phục các hiện tượng tiêu cực (trụ sở ảo, khai khống vốn, vi phạm nhân thân) bằng các biện pháp hậu kiểm, tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế và chính quyền địa phương, thay vì quay lại cơ chế "tiền kiểm" hay "xiết lại" thủ tục hành chính.
- 3.2. Hoàn thiện chế độ pháp lý về cấp giấy phép kinh doanh: Tiến hành rà soát, bãi bỏ các loại "giấy phép con" không cần thiết, minh bạch hóa các điều kiện kinh doanh, phân định rõ ràng giữa đăng ký kinh doanh và cấp phép kinh doanh chuyên ngành.
- 3.3. Hoàn thiện các quy định về tổ chức nội bộ của công ty: Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, phân định rành mạch thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý cá nhân của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và Ban kiểm soát.
- 3.4. Hoàn thiện cơ chế pháp lý cho việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên: Hoàn thiện khung khổ quy định tại Nghị định số 63/2001/NĐ-CP, làm rõ địa vị pháp lý của đại diện chủ sở hữu nhà nước, cơ cấu quản lý và chế độ tài chính trong công ty TNHH một thành viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập 6 kết quả và đóng góp mới chủ yếu:
- Về mặt lý luận: Phân tích sâu sắc quan điểm công ty là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường, chỉ xuất hiện khi hội đủ 4 tiền đề kinh tế - xã hội khách quan.
- Về mặt lịch sử: Lý giải nguyên nhân sâu xa khiến các mô hình công ty không thể hình thành và phát triển thuận lợi tại Việt Nam trong các giai đoạn trước Đổi mới 1986.
- Về đánh giá lập pháp: Khẳng định Luật Doanh nghiệp năm 1999 là bước phát triển vượt bậc trong lịch sử lập pháp về công ty tại Việt Nam thông qua việc tự do hóa quyền kinh doanh và hoàn thiện quản trị công ty.
- Về nhận thức phạm vi pháp luật công ty: Đưa ra quan niệm mở rộng, xác định pháp luật về công ty không chỉ bó hẹp trong Luật Doanh nghiệp mà bao gồm cả hệ thống pháp luật về công ty hóa doanh nghiệp nhà nước (đặc biệt là chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên) và các đạo luật điều chỉnh môi trường kinh doanh.
- Về phát hiện bất cập thực tiễn: Chỉ rõ các lỗ hổng pháp lý trong chế độ đăng ký kinh doanh, tình trạng lạm dụng giấy phép con, những khiếm khuyết trong mô hình tổ chức quản trị nội bộ và cơ chế chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.
- Về hệ thống giải pháp: Xây dựng hệ thống kiến nghị đồng bộ nhằm hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp, cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh theo hướng hậu kiểm, tinh giản giấy phép kinh doanh và hoàn thiện thể chế công ty hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án được thực hiện tại thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 1999 mới đi vào cuộc sống được 2 năm (2000 - 2002), do đó số liệu thực tiễn và các tranh chấp thương mại phát sinh từ mô hình công ty mới chưa bộc lộ toàn diện. Mặt khác, đề tài chủ động không nghiên cứu sâu mảng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP để tập trung nguồn lực vào mô hình công ty TNHH một thành viên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng Luật Doanh nghiệp trong các giai đoạn tiếp theo; giải quyết dứt điểm các vấn đề lý luận về tiêu chí xác định quốc tịch của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa nhóm cổ đông đa số và cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu của luận án mang lại giá trị thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, loại bỏ giấy phép con và xây dựng cơ chế quản lý doanh nghiệp theo phương thức hậu kiểm.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại trong việc nghiên cứu lịch sử pháp luật và lý luận về doanh nghiệp.
- Giới luật gia và doanh nghiệp: Hỗ trợ luật sư, chuyên viên pháp chế và các nhà quản trị doanh nghiệp hiểu rõ bản chất pháp lý của từng mô hình công ty, cơ chế phân định trách nhiệm nội bộ và quy trình chuyển nhượng vốn.
Câu hỏi thường gặp
1. Những tiền đề kinh tế - xã hội cơ bản nào quyết định sự ra đời của các loại hình công ty?
Luận án chỉ ra 4 tiền đề kinh tế - xã hội khách quan: (1) Nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh vượt quá khả năng vốn của cá nhân; (2) Yêu cầu tập trung vốn để cạnh tranh trên thương trường; (3) Nhu cầu phân tán và chia sẻ rủi ro kinh doanh thông qua chế độ trách nhiệm hữu hạn; (4) Nhu cầu luân chuyển, chuyển dịch vốn đầu tư linh hoạt giữa các ngành nghề.
2. Vì sao trong các thời kỳ phong kiến và thời kỳ trước năm 1990 ở Việt Nam không có công ty theo đúng nghĩa?
Dưới thời phong kiến, do nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, tư tưởng trọng Sĩ khinh Thương và chính sách bế quan tỏa cảng nên không phát sinh nhu cầu liên kết vốn thương mại. Giai đoạn 1955 đến cuối thập niên 1980 ở miền Bắc và sau năm 1975 trên cả nước, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với đặc trưng độc tôn sở hữu nhà nước và tập thể, ngăn cấm sở hữu tư nhân và kinh doanh làm giàu cá nhân đã triệt tiêu hoàn toàn các tiền đề kinh tế cho sự ra đời của công ty.
3. Những nhược điểm căn bản của Luật Công ty năm 1990 được luận án chỉ ra là gì?
Luận án xác định 4 nhược điểm lớn: (1) Phạm vi điều chỉnh hẹp, chỉ thừa nhận 2 mô hình (công ty TNHH và công ty cổ phần); (2) Can thiệp hành chính quá sâu vào khâu thành lập thông qua chế độ cấp phép và vốn pháp định; (3) Cản trở quyền rút vốn của nhà đầu tư (Điều 25 yêu cầu phải có sự đồng ý của số thành viên đại diện 3/4 vốn điều lệ mới được chuyển nhượng vốn ra ngoài); (4) Thiếu vắng các quy định chi tiết về quản trị nội bộ và cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số.
4. Quan niệm mới của tác giả về cấu trúc của "pháp luật về công ty" ở Việt Nam là gì?
Tác giả cho rằng pháp luật về công ty không chỉ bao gồm các quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động trong Luật Doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn, mà còn bao gồm cả các quy định về công ty hóa doanh nghiệp nhà nước (cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định 63/2001/NĐ-CP), cùng các quy chế pháp lý liên quan trực tiếp như đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh và hợp đồng kinh tế.
5. Luận án giải quyết vấn đề xác định quốc tịch đối với ngân hàng liên doanh như thế nào?
Dựa trên phân tích pháp lý về tư cách pháp nhân, tác giả khẳng định rằng một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, có trụ sở tại Việt Nam và được công nhận là pháp nhân Việt Nam thì đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam. Yếu tố nguồn gốc vốn đầu tư nước ngoài không làm thay đổi tính chất quốc tịch Việt Nam của pháp nhân đó.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Liêm là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về mặt lý luận cũng như thực tiễn đối với các loại hình công ty và pháp luật công ty tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các tiền đề kinh tế, tổng kết lịch sử lập pháp và đánh giá thực tiễn 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999, luận án đã khẳng định tính tất yếu của tự do kinh doanh và quản trị minh bạch. Các luận điểm và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp và thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.