CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG CHAO BAN CO PHAN VA PHAP LUAT VE CHAO BAN CO PHAN CUA CONG TY CO PHAN 1. Những vấn dé lý luận cơ bản về hoạt động chao ban co phan của công ty cổ phan 1. Quan niệm chung về hoạt động chào bán cỗ phan của công ty cỗ phan 1. Quan niệm về hoạt động chào bán cỗ phần của công ty cổ phan dưới góc độ kinh tế Chao bán cổ phan của công ty cỗ phan là một trong những hoạt động huy động vốn cơ bản nhất của công ty cổ phan.
Dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cô phần tạo ra loại hàng hóa đặc biệt cho thị trường chứng khoán, đó là cổ phần (thường được thé hiện bang hình thức cô phiếu). Dùng cô phan dé huy động vốn, với cách huy động vốn nay, công ty cô phần đồng thời huy động von điều lệ, mặt khác có thể thu về một khoản vốn thặng dư từ việc bán cô phiếu, khoản thu này sẽ làm gia tăng thêm vốn và tai sản của công ty. Các nhà đầu tư tìm đến cô phần như tìm đến một phương thức đầu tư hiệu quả, thông qua đó, với tư cách cô đông công ty cô phan, các nhà đầu tư có thé thực hiện quyền quản lý, tham gia vào quá trình điều hành kinh doanh của công ty cô phần hoặc chỉ đơn giản là đầu tư mua cô phan để bán lại trên thị trường giao dịch chứng khoán dé tìm kiếm thu nhập và lợi nhuận. Với những lợi ích mà cổ phần mang lại cho công ty cô phan và cho các nhà đầu tư, nền kinh tế xã hội cũng vì thế mà phát triển, dựa vào sự tăng trưởng vốn kinh doanh và sự luân chuyên linh hoạt của dòng vôn này.
Ở Việt Nam, giá trị biểu thị một phần vốn đầu tu này được định danh bang hai thuật ngữ là “cổ phần” và “cỗ phiếu”, người năm giữ các “cô phần”, “cô phiếu” này gọi là “cỗ đông” (Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005). Các giao dịch thương mai được thiết lập với đối tượng là các cô phần, cô phiếu do công ty cô phần chao bán đã tạo nên sự linh hoạt trong van đề luân chuyên vôn và tăng trưởng vôn của các chủ đâu tư nói riêng và của cả nên kinh tê - xã 12 hội nói chung. Dưới khía cạnh kinh tế, hoạt động chào bán cổ phan của công ty cô phan đã thiết lập nên những mối quan hệ giữa chủ thé chào bán cổ phần và nhà đầu tư, nhằm mục đích huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty cô phân và tạo cơ hội đâu tư hưởng lợi nhuận của các nhà đâu tư. Có thé khang định, hoạt động chào bán cổ phan là tiền đề dé các chủ thể có thể thực hiện các giao dịch tài chính, thương mại liên quan đến cô phần.
Nói cách khác, không có hoạt động chào bán cô phần sẽ không có những hoạt động như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán hay lưu ký chứng khoán [123, tr15]. Như vậy, dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cổ phan là nền tang, cơ sở dé thiết lập nên các hoạt động khác liên quan đến chứng khoán. Hoạt động này được hiểu là việc tổ chức chào bán có đủ điều kiện đưa cô phần vào thị trường theo trình tự thủ tục xác định, với ý nghĩa giúp các tổ chức chào bán cổ phan dé dàng huy động vốn với chi phí thấp hơn so với các hình thức huy động vốn khác. Chao bán cô phần của công ty cổ phan là hoạt động mà xét dưới các góc độ chủ thể khác nhau sẽ mang những ý nghĩa kinh tế - xã hội khác nhau, các nhóm lợi ích cụ thê được thể hiện như sau: (i) Đối với công ty cô phần chào bán cổ phan, hoạt động chao bán cô phần là hoạt động huy động vốn chủ sở hữu tạo ra Vốn Điều lệ tại thời điểm thành lập công ty hoặc làm tăng vốn Điều lệ thực có nhăm khang định khả năng tài chính cũng như đáp ứng các điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường của công ty cổ phan; (ii) Đối với các chủ đầu tư tiễn hành mua cổ phan, hoạt động chào ban cô phan của công ty cổ phan là cơ hội dé các chủ đầu tư khang định thêm vi thé tài chính trong công ty cổ phần mà họ đã là cỗ đông; hoặc là cơ hội dé các chủ đầu tư mới trở thành cô đông của công ty cô phan.
Trong công ty cô phan, cô đông được phân chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo loại cổ phần mà họ nắm giữ, tuy nhiên, ở mức độ nhất định, các cô đông sẽ cùng nhau san sẻ trách nhiệm kinh doanh cũng như các rủi ro trong kinh doanh trong công cuộc tìm kiếm lợi nhuận từ hình thức đầu tư trực tiếp này; (iii) Đôi với nên kinh tê - xã hội, hoạt động chao bán cô phân của công 13 ty cổ phần là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán bao gồm thị trường tập trung và thị trường phi tập trung tuỳ thuộc vào phương thức chào bán mà công ty lựa chọn. Dưới góc độ kinh tế, xuất phát từ chủ thé chào ban là các công ty cô phan, hoạt động chào bán cô phần có thé được khái quát qua một số giai đoạn cơ bản sau đây: (i) Chuẩn bị chao bán: Chuan bi chào bán có hai nội dung cơ bản: một là, chuẩn bị chào bán cô phiếu dé hình thành vốn điều lệ cho công ty cô phan; hai là chuẩn bị chào bán khi công ty cô phần huy động thêm vốn điều lệ, tăng quy mô vốn cho doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, việc xây dựng kế hoạch chào bán đặc biệt quan trọng, cụ thể là tô chức chào bán phải xác định được quy mô vốn của công ty dé từ đó quyết định số lượng cô phan và giá cổ phần dự kiến chào bán, các mức độ yêu cầu phù hợp đối với cổ phần của công ty và ban chất hoạt động kinh doanh của công ty. Từ việc xác định các yếu tô này, công ty có thể lựa chọn phương thức chào bán phù hợp với điều kiện thực tế của minh và gan liền với nó là những trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
Giai đoạn này có ý nghĩa kinh tế quan trọng, quyết định khả năng thành công của đợt chào bán, có nghĩa là xác định được số vốn mà công ty có thể huy động được trong đợt chào bán đó. Việc chuẩn bị chào bán có sự tính toán về tỷ lệ giữa số von huy động được và chi phí cần thiết dé tiến hành chào bán cổ phần sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cô phan. (ii) Tiến hành chào bán cổ phan: Dưới góc độ kinh tế, đây là hoạt động tổng hợp các công đoạn chào bán. Tuỳ theo quy mô và phương thức chào bán mà các công đoạn này được các công ty cô phần xác định mức độ đơn giản hay phức tạp.
Đối với chào bán cô phần nội bộ (chào bán riêng lẻ), quá trình chao bán đơn giản hơn do quy mô và số lượng các nhà dau tư bị hạn chế. Đối với chào bán cô phần rộng rãi cho các nhà đầu tư không hạn chế số lượng (chào bán ra công chúng), các công đoạn chào bán thường phức tạp do có tổ chức tài chính trung gian chịu trách nhiệm thiết kế cuộc chào bán, xác định mức giá cô phiêu và trực tiêp phân phôi cô phiêu. Trong giai đoạn này, trách 14 nhiệm đối với nhà đầu tư của tổ chức chao bán và tổ chức tài chính trung gian cũng được xác định. Những hành vi gian lận trong quá trình này cần phải được loại trừ từ cả hai phía là bên mua và bên bán để đảm bảo sự công bằng và quyền lợi hợp pháp của các bên.
Dưới góc độ kinh tế, việc thực hiện thành công giai đoạn tiễn hành chào bán cô phần sẽ được thé hiện bằng các yếu tố: công ty được phép chào bán cổ phan; nhà dau tư tiễn hành mua cô phan; công việc thanh toán tiền mua cổ phần hoàn thành. Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, quyết định sự thành công của kế hoạch huy động vốn của công ty cô phan. Mặt khác, tổ chức chào bán cũng tiễn hành hoạt động xác nhận quyền sở hữu cổ phiếu cho nhà đầu tư đã đăng ky mua hoặc đấu giá thành công. Việc xác nhận quyền sở hữu cũng như tinh hợp pháp của cô phiếu cho nhà đầu tư có thé được thực hiện bởi tổ chức chào bán hoặc bởi tổ chức bảo lãnh chào bán.
Ngược lại, nhà đầu tư phải có hành vi chuyên tiền mua cô phiếu vào tài khoản của tô chức chào bán hoặc tô chức bảo lãnh chào bán. Dưới góc độ kinh tế, quan hệ mua bán cô phan giữa công ty cổ phần và nhà đầu tư là quan hệ mua bán mang tính dân sự, thương mại và nó cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, thương mại. Tuy nhiên, hàng hoá trong quan hệ mua bán này là loại hàng hoá đặc biệt, nó không chỉ là sự mua bán vốn thông thường ma đây là hoạt động ban vốn và đầu tư có tổ chức, vì vậy, dưới góc độ kinh tế, hoạt động này có ý nghĩa sâu sắc và có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành, hoạt động và phát triển của công ty cô phần nói riêng và đồng thời cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới sự bình 6n của nên kinh tế - xã hội nói chung. Quan hệ giữa công ty cô phần và nhà đầu tư thê hiện rõ nét nhất ở giai đoạn công ty cô phan chào bán cô phan dé hình thành vốn Điều lệ của công ty hoặc gọi thêm vốn Điều lệ trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Khác với những quan hệ góp vốn hình thành doanh nghiệp khác, việc góp vốn vào công 15 ty cô phần phải thông qua quan hệ mua — bán cô phan. Ví dụ như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, số vốn mà thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn hoặc cam kết góp vốn sẽ được ghi nhận chính xác trong vốn điều lệ của công ty theo tỉ lệ phần trăm trên tổng vốn điều lệ. Nếu nhà đầu tư góp vốn bang tài sản, các thành viên của công ty phải cùng định giá tài sản và giá trị vốn của mỗi thành viên được ghi nhận trong vốn điều lệ phải bằng chính giá trị đã được định giá.