CHƯƠNG 1 QUAN TRI CÔNG TY VA VAN DE VE THANH VIEN HOI DONG QUAN TRI DOC LAP 1.1 Quan trị công ty và sự cần thiết của thành viên Hội đồng quản tri độc lập 1.1 Khái niệm về quản trị công ty và mô hình quản trị công ty trên thé giới Trong may thập ky gần đây, một thuật ngữ được giới doanh nhân biết đến như một hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột trong doanh nghiệp được gọi là “Corporate Governance” — Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương dịch thành “Quản trị công ty”. “Quản trị công ty” liên quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông và các bên có quyên lợi liên quan khác. Hiện nay, “quản trị công ty” đang thu hút sự chú ý của đông đảo quần chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “quản trị công ty là một hệ thong được xây dựng dé điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp.
Cau trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyên và trách nhiệm trong số những thành phan khác nhau có liên quan tới công ty như Hội dong quản trị, cổ đông và những chủ thể khác có liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tao ra phương tiện thực thi và giảm sát việc thực hiện mục tiêu do” [27]. Như vậy, quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ câu và các quá trình: Đó là môi quan hệ giữa các cô đông và Ban 16 giám đốc bao gồm việc các cô đông cung cấp vốn cho Ban giám đốc đề thu được lợi suất mong muốn từ khoản đầu tư (cổ phần) của mình. Về phần mình, Ban giám đốc có trách nhiệm cung cấp cho các cô đông các báo cáo tài chính và các báo cáo hoạt động thường kỳ một cách minh bạch.
Các cô đông cũng bầu ra một thể chế giám sát, thường được gọi là Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát dé đại diện cho quyền lợi của mình. Trách nhiệm chính của thé chế nay là đưa ra định hướng chiến lược cho Ban giám đốc và giám sát họ. Ban giám đốc chịu trách nhiệm trước thê chế này, và thể chế này lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông. Các cơ cấu va các quy trình xác định những mối quan hệ này thường xoay quanh các cơ chế quản lý năng lực hoạt động và các cơ chế báo cáo khác nhau.
Dựa vào cơ câu quản trị nội bộ, trên thế giới tồn tại cơ bản hai mô hình Hội đồng quản trị (“HĐQT”) khác nhau: HĐQT một tầng hay hội đồng quản trị đơn (one-tier board model) và HĐQT hai tầng hay hội đồng quản trị kép (two-tier board model). (i) — Hội đồng quản trị một tầng: Đặc trưng của HĐQT đơn cấp là một hội đồng bao gồm các thành viên điều hành và không điều hành. Trong cơ cấu này, bộ phận giám sát thường được gọi là HDQT. Cơ cầu quản tri này có thé tạo điều kiện thuận lợi dé xây dựng những cơ cấu lãnh đạo vững mạnh và nâng cao hiệu quả của quá trình ra quyết định.
Tuy nhiên, các thành viên HĐQT điều hành và không điều hành đóng một vai trò thiết yếu trong việc giám sát các thành viên của Ban giám đốc điều hành và giảm thiểu các chi phí tác nhân. Hệ thống này thường phổ biến tại những công ty có trụ sở ở những quốc gia theo truyền thống Thông luật (Common Law), chăng hạn như Mỹ và Anh quốc. 17 Cấu trúc quản trị nội bộ của một công ty cô phần theo truyền thống Thông luật gồm có: Dai hội đồng cô đông và Hội đồng giám đốc. Hội đồng giám đốc đồng thời cũng là bộ phận điều hành công ty sẽ do Đại hội đồng cổ đông bau chọn.
Các thành viên của Hội đồng giám đốc được gọi là directors. Công việc kinh doanh của công ty được quản lý bởi, hay dưới sự chỉ đạo của Hội đồng giám đốc. Hội đồng giám đốc bổ nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác đảm nhiệm các công việc điều hành họat động kinh doanh hàng ngày của công ty. Người đứng đầu của bộ phận điều hành là Tổng giám đốc.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc trong pháp luật Anh — Mỹ do Hội đồng giám đốc quyết định chứ không được quy định như trong pháp luật Việt Nam. Do vậy, không phải các Tổng giám đốc đều có quyền lực như nhau [Xem Phụ lục 1]. (ii) Hội đồng quản trị hai tang: Đặc trưng của Hội đồng này là sự tồn tại của các bộ phận kiểm soát và quản lý tách biệt. Nó có hai tầng, ở trên được gọi là Hội đồng giám sát, ở đưới là Hội đồng chấp hành — Hội đồng này dé bạt Ban giám đốc.
Hội đồng ở trên yêu cầu hội đồng dưới đệ trình các kế hoạch và đề nghị để xem xét, chấp thuận, sau đó kiểm tra lại và đánh giá kết quả thực hiện [Xem Phụ lục 2]. Cấu trúc hội đồng hai tầng với sự tham gia của người lao động trong các công ty cô phan đã từng được cho là trái tim của nền công nghiệp Duc. Sự tham gia của người lao động vào cấu trúc quản trị công ty cô phan theo luật Đức thé hiện ý niệm về mô hình quản trị công ty hướng về những người có liên quan, hướng vào việc bảo vệ người lao động và chủ nợ. Trong khi đó, mô hình quản trị kiểu Anh — Mỹ nhằm hướng tới cô đông, tập trung bảo vệ nhà dau tư, chủ yếu là cô đông.
18 Hai đặc điểm quan trọng nhất trong cấu trúc Hội đồng kép theo luật công ty Đức là: + Cấu trúc quản trị có hai hội đồng theo thứ bậc: Đại hội đồng cô đông, Ủy ban giám sát (hay còn gọi là Hội đồng giám sát) và Hội đồng chấp hành. Việc quản lý điều hành công ty cô phần được phân chia cho hai cơ quan: Hội đồng giám sát và Hội đồng chấp hành. + Có sự tham gia nhất định của đại điện người lao động vào Hội đồng giám sát. Tuy nhiên, dù là đi theo mô hình HĐQT một tầng hay hai tầng thì HĐQT đều được xem là trung tâm quyền lực của công ty, giữ vai trò quyết định trong việc xác định các mục tiêu chiến lược, đồng thời đảm bảo các nguồn tài chính và nhân sự cần thiết đủ dé thực hiện các mục tiêu chiến lược nay.
Vi vậy, một công ty có phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào việc HĐQT có xác định được tầm nhìn chiến lược và giám sát tình hình thực hiện cũng như quản trị rủi ro có tốt hay không? Hay nói một cách khác, HĐQT giỏi sẽ đưa đến việc quản trị công ty tốt.2 Sự cần thiết phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập Dựa trên phương diện cơ cấu quyền lực, công ty được tạo lập từ ba thành phan: cổ đông là người bỏ tiền, Hội đồng quan trị là người được giao giữ tiền và Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) là người dùng tiền dé kinh doanh. Cổ đông bỏ tiền vào công ty thì luôn luôn muốn số tiền ấy gia tăng và sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, do số lượng cô đông lớn hoặc sinh sống ở những vùng khác nhau nên không phải ai cũng có thời gian, năng lực quản lý, năng lực kinh doanh dé điều hành công ty. Do đó, các cô đông giao tiền cùng với quyền định đoạt số tiền ấy cho người quản lý, coi những người này là đại diện của mình để tiến hành kinh 19 doanh và chỉ giữ lại một số quyền tối thiểu để tự bảo vệ, đồng thời ràng buộc trách nhiệm vào người đại diện cho mình.
Những người quản lý này được tập hợp thành một hội đồng gọi là Hội đồng quản trị HĐQT). HĐQT được ví như là trung tâm của công ty, là cầu nối giữa các cổ đông và Ban giám đốc nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông nói riêng và toàn công ty nói chung. Trong đó các thành viên HĐQT là “khối óc điều khiển của doanh nghiệp” [14,tr. Họ có nghĩa vụ cần trọng và trung thành với lợi ích của công ty.
Đề thực hiện được nghĩa vụ đó, một yêu cầu đặt ra là các phán quyết mà HĐQT đưa ra đòi hỏi phải có tính khách quan và độc lập. Nếu các quyết định chỉ dựa trên lợi ích của một người/một nhóm người thì sẽ ảnh hưởng xấu đến sự lành mạnh của công ty, là tiền đề xuất hiện những mâu thuẫn nội bộ. Thế nhưng, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các quốc gia, các thành viên HĐQT lại là người đại diện cho sỐ lượng lớn cô phan trong công ty. Không những thế, những người này còn được bổ nhiệm giữ chức vụ trong Ban Điều hành/Ban Giám đốc.
Trong khi đó, thiết chế HĐQT được đặt ra là dé giám sát các hoạt động của Ban giám đốc. Nếu một người giữ vị trí kiêm nhiệm như vậy thì quyền lợi của các cô đông khác (đặc biệt là cổ đông thiêu số) liệu có được đảm bảo? Đề nâng cao chất lượng quản trị công ty và khắc phục hiện tượng tư lợi, nhiều công ty trên thé giới đã áp dung mô hình HĐQT có thành viên độc lập — gọi chung là thành viên HĐQT độc lập. Sự cần thiết của thành viên HĐQT độc lập được lý giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.1 Đảm bảo tính khách quan trong các quyết định liên quan đến hoạt động của công ty Trong một HĐQT, các thành viên đều là cổ đông, nhân viên hoặc người khác có quan hệ lợi ích bên trong công ty, rất khó có thể đưa ra những quan 20 điểm, ý kiến khách quan dé dẫn đến các quyết định có lợi cho đa số cô đông, nhưng bắt lợi, hoặc ít có lợi cho bản thân mình. Thành viên HĐQT độc lập là người không có quan hệ lợi ích với công ty (ngoài thù lao về thành viên HĐQT).
Vì vậy, họ không bị “lấn can” bởi những suy nghĩ liên quan đến lợi ích riêng tư, nên sẽ đưa ra những ý kiến khách quan, nhằm vào lợi ích tổng thé của công ty chứ không nhăm vào lợi ích riêng tư của cá nhân hoặc một nhóm người. Nhờ tiếng nói khách quan này, HĐQT công ty tránh được những quyết định mang tinh “có ý đồ”, có thé gây xung đột lợi ích trong cô đông, và đôi khi, trong chính nội bộ HĐQT.