chương 1 tác giả trình bày những vấn đề chung về quản trị công ty và quản trị công ty đại chúng niêm yết. Theo tác giả quản trị công ty đã trở thành vấn đề cơ bản trong lĩnh vực luật công ty và luật chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới. Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty quan tâm đến cấu trúc quản lý công ty, lợi ích và mục tiêu của các nhóm trong công ty; theo nghĩa rộng quản trị công ty thiết lập tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó. Mục tiêu của khung quản trị công ty phù hợp là: đảm bảo tính thích nghi của cơ cấu quản trị; bảo vệ quyền lợi của cổ đông thông qua sự công bằng, giải trình được, sự minh bạch; tính độc lập của HĐQT và cơ chế kiểm soát; bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số; điều hòa lợi ích cổ đông và người liên quan.
Trong chương này tác giả cũng phân tích khái niệm quản trị công ty, công ty đại chúng/niêm yết ở Việt Nam [71]. Sách “Quản trị công ty ở Đông Á sau khủng hoảng 1997”, Trương Thị Nam Thắng, NXB. Đại học Kinh tế quốc dân, 2010. Tác giả cho rằng quản trị công ty theo nghĩa hẹp là mối quan hệ giữa cán bộ điều hành, thành viên HĐQT và các bên cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các bên hữu quan khác; nghĩa rộng hơn bao gồm luật pháp, quy chế niêm yết, thông lệ tự nguyện của khu vực kinh tế tư nhân giúp công ty có thể thu hút vốn, hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu của công ty và đáp ứng được yêu cầu của pháp luật và mong đợi của xã hội.
Bên cạnh đó, tác giả đề cập, phân tích ba lý thuyết chính về quản trị công ty: thuyết người đại diện, lý thuyết người quản lý, lý thuyết bên hữu quan; cũng như các mô hình quản trị công ty của một số nước xây dựng theo các lý thuyết này. Tác giả cho rằng hiện nay Bộ quy tắc QTCT của OECD trở thành nền tảng cho QTCT toàn cầu, mặc dù có một số chỉ trích về tính hiệu quản của việc OECD áp đặt mô hình Anh – Mỹ lên các thị trường còn lại tuy nhiên việc sử dụng 5 nội dung của bộ quy tắc QTCT của OECD làm khuôn khổ phân tích cho nghiên cứu là phù hơp bởi Bộ quy tắc này chỉ đưa ra những nguyên tắc cơ bản, chung, toàn cầu các quốc gia và công ty cần phải có sự áp dụng và phát triển chi tiết theo từng môi trường kinh doanh[72]. 14 luan an Tóm lại, các công trình nghiên cứu lý luận về quản trị công ty nói trên mặc dù không chuyên sâu về pháp luật quản trị công ty đại chúng nhưng đã cung cấp một cách nhìn tổng quán về tình hình quản trị công ty trên thế giới và Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu này các nội dung lý luận về quản trị công ty đã được trình bày khá chi tiết, dưới các giác độ khác nhau như: lịch sử của quản trị công ty, các lý thuyết về quản trị công ty, khái niệm quản trị công ty, các yếu tố của quản trị công ty, các mô hình quản trị công ty, nội dung pháp luật về quản trị công.
Các kết quả nghiên cứu đó là nền tảng so sánh, phân tích, đánh giá của luận án để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cũng như căn cứ để đánh giá hoạt động thực tiễn và kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam hiện nay.2 Các công trình nghiên cứu thực trạng về pháp luật quản trị công ty Trên cơ sở lý luận về quản trị công ty, cuốn sách “Corporate Governance: Theories, Principles, and Practices” của tác giả John Farrar [91] đi sâu vào nghiên cứu các quy định pháp luật về quản trị công ty trên cơ sở các quy định pháp luật thực định của Anh và của Mỹ về các vấn vai trò của cổ đông, bên liên quan đến quản trị công ty, quyền và nghĩa vụ nghiên cứu về cấu trúc sở hữu của các loại hình công ty, về cấu trúc quản trị nội bộ của công ty như: vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của HĐQT, Giám đốc, Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, trong đó có so sánh đối chiếu với quy định pháp luật về quản trị công ty của một số nước có tính chất tương đồng. Đặc biệt trong phần 4 tác giả đã phân tích và đưa ra một cách nhìn tổng thể về các quy định pháp về luật quản trị công ty ở một số khu vực trên thế giới như: Châu Âu lục địa; Trung và Đông Âu; Châu Á – Thái Bình Dương; Khu vực Đông Phi, Ai Cập, Ấn Độ, Brazil. Trên cơ sở đó tác giả nhận định có nhiều quy định pháp luật và cấu trúc sở hữu có liên quan và ảnh hưởng đến quản trị công ty. Trong khi hệ thống pháp luật dựa trên thông luật (common law) có xu hướng đưa ra điều kiện đảm bảo quyền cổ đông (bao gồm cả cổ đông thiểu số) thì hệ thống pháp luật dựa trên dân luật (civil law) thì ít hơn các quy định này.
Điều đó ảnh hưởng bởi cấu trúc sở hữu, với những nước dựa trên cơ sở thông luật có xu hướng có nhiều công ty đại chúng với cấu trúc sở hữu phân tán còn những nước dựa trên cơ sở dân luật thì cách thức sở hữu trong công ty chủ yếu bởi các tổ chức, tập đoàn. Hiện nay, không có cách thức quản trị công ty nào có thể áp dụng chung cho tất cả công ty ở các nước tuy nhiên hiện nay các thông lệ quản trị công ty tốt của OECD, World Bank, ICNG đang có sự ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật quản trị công ty ở nhiều nước. Cũng với cách tiếp cận như trên, cuốn sách “Corporate Governance: Principles, Policies, 15 luan an and Practices” [89] của tác giả Bob Tricker tập trung nghiên cứu các quy định pháp lý về quản trị công ty của Anh và Mỹ, hay cuốn sách “Corporate Governance: Theories, Principles, and Practices” của tác giả John Farrar trung nghiên cứu các quy định pháp lý về quản trị công ty của Australian và New Zealand [91]. Nếu coi quản trị công ty là sự liên kết, thì nó bao gồm các hệ thống pháp luật và các cơ chế đảm bảo rằng lợi ích của người quản lý, điều hành công ty luôn phù hợp, đồng hành với lợi ích cổ đông.
Hệ thống chế độ về quản trị công ty bao gồm các cơ chế bên trong và cơ chế bên ngoài công ty. Cơ chế bên trong chính là các yếu tố trong nội bộ công ty mà nền tảng quy định đó được xác định trong luật công ty, còn cơ chế bên ngoài chính là môi trường pháp lý mà công ty hoạt động, các quy chế thị trường, các tổ chức có liên quan (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước). Với cách tiếp cận quản trị công ty là yếu tố trong nội bộ công ty trong cuốn sách “Comparative Company Law: Text and Cases on the Laws Governing Corporations in Germany, the UK and the USA” của tác giả Andreas Cahn and David C. Donald [87] đã cung cấp một cách nhìn tổng quan về pháp luật công ty của Đức, Anh và Mỹ trong đó có so sánh đối chiếu các quy định luật công ty của các nước này về từng khía cạnh chuyên biệt.
Trong đó nghiên cứu, luận giải về các vấn đề: công ty và các vấn đề về vốn; các vấn đề liên quan đến quản lý điều hành ( Hội đồng quản trị, nghĩa vụ người quản lý, quyết định quản lý); các vấn đề liên quan đến thành viên/cổ đông (Đại hội đồng cổ đông, quyền bỏ phiếu, quyền thông tin, nghĩa vụ cổ đông, thực thi quyền cổ đông). Ngoài ra, trên cơ sở các quy định pháp luật về công ty tại mỗi phần tác giả có đưa ra một số phán quyết pháp lý của các cơ quan nhà nước làm cơ sở thực tiễn cho những luận giải, phân tích trong tài liệu. Tương tự với cách tiếp cận trên, trong cuốn sách “Company law” của Ben Pettet [88], trên sau khi phân tích cơ sở lý luận về công ty, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề pháp luật công ty của Anh bao gồm các nhóm vấn đề: các quy định pháp luật về công ty; quản trị công ty, quản trị tài chính; quy định về chứng khoán. Cuốn sách “European Comparative Company Law” của tác giả Mads Andenas and Frank Wooldridge [92], theo tác giả, EU đang nỗ lực đưa ra các quy định nhằm đảm bảo quyền tự do thành lập và di chuyển vốn trong công ty giữa các quốc gia thành viên, vì vậy để đảm bảo sự hài hòa, phù hợp giữa pháp luật công ty của các quốc gia thành viên và luật pháp của EU là điều cần thiết.
Trong trường hợp có sự xung đột pháp luật, thì các quy định chung pháp luật công ty của EU sẽ được áp dụng. Chính vì vậy, trong cuốn sách này tác giả nghiên cứu luật công ty của các 16 luan an quốc gia EU dưới góc độ luật so sánh. Trên cơ sở pháp luật công ty thực định của các quốc gia trong EU tác giả phân tích đánh giá theo từng nhóm vấn đề: thành lập công ty; các hình thức tổ chức kinh doanh; quản lý và điều hành công ty; sự tham gia của người lao động vào công ty; vốn cổ phần và vốn vay; nhóm công ty; vấn đề hợp nhất và mua lại công ty; bảo vệ nhà đầu tư. Báo cáo “Public Enforcement and Corporate Governance in Asia: Guidance and Good Practices”; OECD giữ bản quyền (2014).
Bản báo cáo này được thực hiện vào năm 2013 thông qua các khảo sát được thực hiện ở các nước Bangladesh; Trung Quốc; Đài Bắc Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; Ấn Độ; Indonesia; Hàn Quốc; Malaysia; Mông Cổ; Pakistan; Philippines; Singapore; Thái Lan và Việt Nam. Mục đích của bản báo cáo để xác định những thách thức và trở ngại để tổ chức thực thi một cách có hiệu quả các thông lệ quản trị công ty tốt ở các nước nói trên. Các thông lệ thực hành tốt và khuyến nghị trong báo cáo này được đưa ra dựa trên những cuộc khảo sát, thảo luận và phỏng vấn. Báo cáo này đưa ra các hướng dẫn và thực hành tốt để giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý ở châu Á trong lĩnh vực thực thi quản trị công ty tại nước mình.