CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA THỦ TỤC THANH LY TÀI SAN, CÁC KHOẢN NO CUA DOANH NGHIỆP LAM VÀO TINH TRẠNG PHA SAN 1. Khai niệm tai san và các khoản nợ của doanh nghiệp lâm vào tinh trạng phá sản 1. Khái niệm tài san của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc xác định phạm vi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa rất quan trọng, bởi điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ mà còn là cơ sở để tòa án quyết định phương hướng giải quyết phá san và có thể tiến hành xử lý nợ một cách triệt dé. Việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được quy định khác nhau ở những quốc gia khác nhau dựa trên tiêu chí như thời điểm tiến hành các thủ tục giải quyết phá sản, phạm vi không gian tài sản hiện hữu hay nguồn tài sản.
Theo Luật Phá sản của Nhật Bản, phạm vi khối tài sản phá sản bao gồm tất cả các tài sản còn lại của con nợ. Khối tài sản này bao gồm tài sản của con nợ và quyền phủ nhận về tài sản. Luật Phá sản của Nhật Bản quy định “Bất kỳ tài sản nao và tat cả những tài sản do bên bị phá sản giữ tại thời điểm tuyên bó phá sản” đều thuộc khối tài sản phá sản. Tuy nhiên, Luật Phá sản của Nhật Bản lại có quy định về một loại tài sản được miễn trừ khỏi khối tài sản phá sản đó là “tài sản tự do”, tham khảo quy định tại Điều 34 Luật Phá sản Nhật Bản, Điều 131 và 132 Luật thực thi dân sự Nhật Bản, theo đó “tài sản tự do” được xác định là tài sản mới thiết lập quyền sở hữu, tài sản không được phép cho vào danh sách tịch thu, tiền dưới 100 yên Nhật, tai sản không phải là tài sản tự do nhưng được xếp làm tài sản tự do và tài sản mà người làm thủ tục thanh lý xếp ở ngoài danh sách thanh lý [17].
Bên cạnh đó, Luật Phá sản của Nhật Bản cũng có quy định những tài sản có được sau khi tuyên bố phá sản thì không được tính vào khối tài sản của doanh nghiệp mà được xếp vào loại tài sản mở rộng với lý do là: nêu đưa vào loại tài sản phát sinh này sẽ tạo ra sự phức tạp cũng như khó khăn trong tính toán và đồng thời cũng tạo ra tính không công bằng trong việc xác định quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan đến khối tài sản đó. Một điều đặc biệt được quy định trong Luật Phá sản của Nhật Bản đó là: Những tài sản nào ở ngoài phạm vi lãnh thổ Nhật Bản không được coi là một bộ phận cua khối tài sản phá sản. Bởi vì người Nhật cho răng khả năng giám sát, đánh giá và thu hồi khối tài sản này rất khó khăn, thậm chí là không thé thu hồi được [6]. Ngoài ra, pháp luật phá sản của Nhật Bản lại có những quan niệm của riêng mình khi cho rằng những tài sản con nợ có được trong giai đoạn giữa thời điểm nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ và ngày ban hành quyết định giải quyết đơn thuộc về khối tài sản phá sản, còn tài sản con nợ có được sau khi bắt đầu vụ kiện phải được miễn trừ khỏi khối tài sản phá sản với mong muốn của các nhà làm luật là nhằm tạo cho con nợ một sự khởi đầu mới.
Cũng trong pháp luật phá sản của Nhật Bản, khối tài sản phá sản bao gồm tài sản của con nợ tại thời điểm tuyên bố phá sản là đối tượng của thủ tục tư pháp. Những tài sản mà người được ủy thác thu hồi được thông qua quyền phủ nhận cũng thuộc về khối tài sản phá sản. Quyền chủ sở hữu cũng là một loại tài sản thuộc khối tài sản phá sản. Tài sản này không nhất thiết phải nhìn thấy được và không nhất thiết phải được thê hiện trên số sách hoặc tài khoản của con nợ.
Tài san cam có cũng là một tài sản trong khối tài sản phá sản [8]. Luật Phá sản của Hoa Kỳ tại Điều 401 lại ghi nhận “Tài sản phá sản là khối sản nghiệp của doanh nghiệp”, theo đó, tài sản phá sản bao gồm: 1. Tất cả số tài sản của con nợ (bao gồm quyên và nghĩa vụ tai sản) ma không được miễn trừ tại thời điểm bắt đầu vụ phá sản đó; 10 2. Tài sản phá sản còn bao gồm những tài sản mà con nợ có được trong vòng 180 ngày sau khi vụ án bắt đầu bằng việc thừa kế những lợi ích từ chính sách bảo hiểm và bất kỳ một lợi ích nào đối với tài sản có được sau khi vụ án bắt đầu; 3 Tài sản phá san cũng bao gồm những tai san do Tín thác viên thu hồi được theo thấm quyền do luật định trong các trường hợp sau: + Quy định xiết nợ (đại diện cho chủ nợ): Tín thác viên có quyền xiết nợ đối với con nợ của doanh nghiệp mà không cần sự đồng ý của con nợ - Khoản 544a; + Các tài sản có được từ những giao dịch ưu tiên trả nợ bị vô hiệu: Tín thác viên có quyền thu hồi bat kỳ một sự chuyển nhượng, thanh toán bằng bất kỳ tai sản nào của con nợ trước ngày phá sản nhằm bảo toàn tài sản của doanh nghiệp và bảo đảm sự phân chia công bằng khối tài sản này (trừ những giao dịch mà pháp luật thừa nhận theo Điều 574); + Các tài sản có được do Tín thác viên đã thực hiện việc xiết nợ người khác đối với tài sản của doanh nghiệp mà người tín thác này đang quản lý [20].
+ Bên cạnh đó, pháp luật pha sản cua Hoa Ky còn quy định tai sản pha sản bao gồm cả những tài sản có được trong vòng 180 ngày ké từ ngày có đơn khởi kiện do thừa kế qua chúc thư, được chia, được thừa kế: là kết quả của một phán quyết về hôn nhân; giải quyết vụ việc đối với người hôi phối; hay theo một hợp đồng bảo hiểm hoặc những thỏa thuận tương tự [20]. Luật Phá sản doanh nghiệp của Nga lại xác định tài sản phá sản bao gồm: - Tất cả tài sản của người mắc nợ thể hiện trong bảng cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản phá sản; - Trong tài sản phá sản còn bao gồm đối tượng thuộc lĩnh vực công cộng năm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuât hạ tâng quan trọng đôi với đời sông khu vực, cân được II đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự quản địa phương hoặc cơ quan quyền lực Nhà nước hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang quy định khác. - Tài sản phá sản không bao gồm tài sản là vật bảo đảm. Tài sản phá sản không bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của người mắc nợ, trong đó có: tài sản do mắc nợ thuê; tài sản mà người mac nợ có trách nhiệm bao quản; tài sản riêng của công nhân doanh nghiệp mắc nợ; trừ tài sản mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp có thé được thu hồi dé thực hiện các nghĩa vụ của người mac nợ (theo quy định tại Điều 26, Luật Phá sản Nga) [3].
Trong hệ thống pháp luật về pha sản của Đức cũng có cách xác định tai sản phá sản theo hướng toàn bộ tài sản mà con nợ có được vào thời điểm tòa án ra quyết định thụ lý và những tài sản con nợ có thêm được từ thời điểm thụ lý được gọi là khối tai san phá sản. Nước này thừa nhận những tài sản cầm cố của các chủ nợ có bảo đảm cũng thuộc khối tài sản phá sản. Ngoài ra, pháp luật phá sản của Đức cũng quy định những tài sản thuộc diện loại trừ ra khỏi khối tài sản phá sản bao gồm: - - Những tài sản không thuộc phạm vi tài sản bị cưỡng bức tịch thu (các quyền liên quan đến cá nhân như sức lao động); các tài sản nhất định theo quy định của Luật Tố tụng dân sự và Luật gia đình thì không thuộc khối tài sản phá sản; - Cac tài sản của con nợ nằm ở nước ngoài thuộc phạm vi khối tài sản phá sản; - “Tai sản loại trừ” là tai sản của chủ nợ đang cho con nợ sử dụng mà không thuộc về khối tài sản phá sản và phải hoàn trả lại cho chủ nợ; “tài sản tách ra” là các khoản nợ có đảm bảo. Ngoài ra pháp luật phá san của Đức không có sự phân biệt các khái niệm “tài sản của doanh nghiệp mắc nợ” và “tài sản còn lại của doanh nghiệp mặc nợ ”† |.
12 Pháp luật phá sản Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê loại hình tài sản dé xác định khối tài sản phá sản. Theo Điều 49, Luật Phá sản năm 2004 quy định, tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: a) Tài sản và quyên về tài sản mà doanh nghiệp, hop tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; b) Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyên vé tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; c) Tai sản là vật bao đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thi phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; d) Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai. Phương pháp liệt kê các loại tài sản như trên có ưu điểm là giúp cơ quan tô tụng cũng như các bên liên quan có thé đánh giá dé dàng và cụ thé hơn về tình hình tài sản của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sự liệt kê đó chưa mang tính khái quát cao vì ngoài tài sản được liệt kê tại Điều 49 Luật Phá sản năm 2004, thì tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản còn có thể là tài sản được thu hồi từ giao dịch vô hiệu (Điều 43 Luật Phá sản năm 2004).