Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Nghiên cứu pháp luật về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Thị Bảo Ánh thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tư pháp), thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số chuyên ngành 62 38 01 07. Công trình được bảo vệ năm 2014 dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm: PGS.TS. Nguyễn Viết Tý và TS. Phan Chí Hiếu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (Mergers and Acquisitions - M&A) là một bộ phận của hoạt động kinh doanh toàn cầu, trải qua sáu đợt phát triển lớn từ đầu thế kỷ XX với khởi nguồn chủ yếu từ Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, trước năm 1999, thị trường hầu như không ghi nhận dữ liệu về các thương vụ M&A. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999, tiếp đó là sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2006, sự ban hành của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, cùng tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã thúc đẩy thị trường M&A tăng trưởng liên tục qua các giai đoạn:
| Năm |
Số lượng thương vụ M&A |
Tổng giá trị giao dịch (USD) |
| 2003 |
41 thương vụ |
118 triệu USD |
| 2008 |
146 thương vụ |
1,009 tỷ USD (1.009 triệu USD) |
| 2010 |
345 thương vụ |
1,75 tỷ USD |
| 2011 |
267 thương vụ |
6,3 tỷ USD |
Dù quy mô thị trường mở rộng, việc nghiên cứu M&A tại Việt Nam tồn tại hai khoảng trống khoa học chính:
- Khoảng trống về khoa học pháp lý: Phần lớn các công trình trong và ngoài nước tiếp cận M&A dưới góc độ kinh tế học, tài chính doanh nghiệp hoặc quản trị chiến lược. Các nghiên cứu pháp lý tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hành vi sáp nhập doanh nghiệp (vốn có quy định tương đối rõ ràng), trong khi các quy định pháp luật về mua bán doanh nghiệp còn phân tán, thiếu tính đồng bộ và chưa được nghiên cứu toàn diện ở cấp độ luận án tiến sĩ. Các công trình trước đây thường chỉ giới hạn ở phạm vi mua bán công ty hoặc hợp đồng mua bán doanh nghiệp đơn lẻ.
- Khoảng trống về kiểm soát cạnh tranh: Hoạt động mua bán doanh nghiệp là một dạng hành vi tập trung kinh tế. Quy luật kinh tế chỉ ra rằng cạnh tranh thúc đẩy tập trung kinh tế, nhưng tập trung kinh tế vượt ngưỡng sẽ triệt tiêu cạnh tranh thị trường. Tại Việt Nam, các công trình đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh nhằm kiểm soát các thương vụ mua bán doanh nghiệp để bảo vệ trật tự thị trường và phúc lợi xã hội còn hạn chế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu hoạt động mua bán doanh nghiệp dưới góc độ khoa học pháp lý và xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mua bán doanh nghiệp và pháp luật về mua bán doanh nghiệp; làm rõ quan niệm, đặc điểm pháp lý, tác động kinh tế - xã hội và nội dung cấu thành của pháp luật về mua bán doanh nghiệp.
- Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật của một số quốc gia; chỉ ra các bất cập, khoảng trống pháp lý liên quan đến chủ thể, hợp đồng, thủ tục thực hiện và cơ chế kiểm soát cạnh tranh.
- Thứ ba: Xác định yêu cầu khoa học và đề xuất hệ thống giải pháp (nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp cụ thể) nhằm hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động mua bán doanh nghiệp và các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung và giới hạn nghiên cứu:
- Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động mua bán doanh nghiệp (Acquisitions), không đi sâu vào các hoạt động sáp nhập (Mergers) hay hợp nhất doanh nghiệp.
- Luận án tiếp cận mua bán doanh nghiệp dưới bản chất là hoạt động đầu tư nhằm giành quyền sở hữu và quyền kiểm soát doanh nghiệp, thông qua hình thức chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển nhượng toàn bộ cổ phần hoặc phần vốn góp chi phối cho bên mua.
- Luận án loại trừ các trường hợp: doanh nghiệp tăng vốn điều lệ và nhà đầu tư góp thêm vốn để chi phối; các thủ tục hậu M&A (như thủ tục thuế, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp); quản lý nhà nước chuyên ngành và giải quyết tranh chấp phát sinh từ mua bán doanh nghiệp; các giao dịch mua lại doanh nghiệp do Nhà nước thực hiện vì mục đích an ninh kinh tế.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo các nhóm tài liệu trong nước và quốc tế:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
- Nhóm nghiên cứu kinh tế - tài chính: Michael E. Frankel (2009) với M&A - Mua lại và sáp nhập căn bản, các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư và Andrew J. Hart (2009) với Mua lại và sáp nhập từ A đến Z phân tích các hình thức M&A (mua tài sản, mua cổ phiếu, LBO, MBO), chủ thể tham gia, quy trình thẩm định chi tiết (due diligence), định giá tài sản vô hình và văn hóa doanh nghiệp hậu M&A. Dezil Rakinne & Peter Howson (2007) cùng Timothy J. Galpin & Mark Herndon (2009) tập trung vào kỹ năng thực hiện giao dịch nhằm tối ưu hóa "giá trị cộng hưởng" ($1 + 1 > 2$). Scott Moeller & Chris Brady (2009) nhấn mạnh vai trò của tình báo doanh nghiệp trong thẩm định chi tiết. Nhìn chung, các công trình này tập trung vào kỹ năng kinh doanh, khía cạnh pháp lý được đề cập mờ nhạt.
- Nhóm nghiên cứu pháp lý: Gregory Crovo (2012) trong bài viết Các vấn đề cần lưu ý khi tham gia giao dịch M&A tại Việt Nam phân tích các rào cản pháp lý đối với nhà đầu tư nước ngoài, thủ tục cấp phép, tài khoản góp vốn và quy định kiểm soát tập trung kinh tế.
Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam
- Góc độ tập trung kinh tế và cạnh tranh: Lê Viết Thái (2005) nghiên cứu thể chế cạnh tranh và hành vi tập trung kinh tế; Báo cáo của Cục Quản lý cạnh tranh (2012) khảo sát thực trạng tập trung kinh tế giai đoạn 2009-2011 nhưng không bao quát các giao dịch ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.
- Góc độ quản trị công ty: Nguyễn Đình Cung & Lưu Minh Đức (2007) khảo cứu thâu tóm và hợp nhất dưới lăng kính quản trị công ty.
- Góc độ tổng hợp kinh tế - pháp lý: Mạng Mua bán và sáp nhập Việt Nam (2009) công bố Cẩm nang Mua bán và sáp nhập tại Việt Nam; Đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM, 2009) phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thể chế điều tiết; Kỷ yếu hội thảo cấp Bộ của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2010) bàn về bản chất pháp lý, định giá và kinh nghiệm của Trung Quốc; Phạm Trí Hùng & Đặng Thế Đức (2011) hướng dẫn quy trình M&A dành cho bên bán.
- Góc độ pháp lý chuyên sâu về hợp đồng và loại hình doanh nghiệp: Mai Vân Anh (2009) nghiên cứu hợp đồng mua bán doanh nghiệp; Nguyễn Thị Dung (chủ biên, 2009) phân tích các điều khoản hợp đồng mua bán doanh nghiệp dưới góc độ chuyển nhượng tài sản; Vũ Phương Đông (2010) nghiên cứu thực trạng mua bán công ty (loại trừ doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã); Trần Quỳnh Anh (2012) giới thiệu pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về M&A.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Hầu hết các nghiên cứu hiện có tiếp cận M&A dưới góc độ tài chính, quản trị hoặc nghiên cứu tản mạn một số khía cạnh hợp đồng, tập trung kinh tế. Luận án của NCS. Trần Thị Bảo Ánh định vị là công trình khoa học pháp lý chuyên sâu, nghiên cứu toàn diện thể chế pháp luật về mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam: từ việc xác lập hệ thống lý luận, phân biệt với các hiện tượng pháp lý tương đồng, đến việc đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật thực định (chủ thể, hợp đồng, thủ tục, kiểm soát cạnh tranh) và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết về doanh nghiệp như một loại hàng hóa đặc biệt: Doanh nghiệp không chỉ là một khối tài sản hữu hình đơn thuần mà là một chỉnh thể bao gồm tên thương mại, tài sản, trụ sở, tư cách pháp lý, bộ máy quản trị, nhân sự, quyền và nghĩa vụ kinh tế. Mua bán doanh nghiệp là sự chuyển giao toàn bộ tập hợp quyền năng gắn liền với chỉnh thể đó.
- Lý thuyết kiểm soát và chi phối hoạt động kinh doanh: Luận án sử dụng tiêu chí quyền kiểm soát (nắm giữ tỷ lệ vốn góp hoặc cổ phần chi phối để thông qua các quyết định quản trị trọng yếu) để phân biệt giữa giao dịch mua bán doanh nghiệp và hoạt động đầu tư tài chính thuần túy.
- Khung phân tích luật so sánh: Luận án đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế:
- Cộng hòa Liên bang Đức: Bộ luật Dân sự năm 1896 (BGB), phân định giữa mua bán tài sản (Asset deal) và mua bán cổ phần/vốn góp chi phối (Share deal - nắm giữ tối thiểu 75% vốn điều lệ), cùng hình thức mua nợ chuyển đổi thành vốn chủ sở hữu.
- Liên bang Nga: Quan niệm doanh nghiệp là một phức hợp tài sản phục vụ kinh doanh và mua bán doanh nghiệp là việc chuyển nhượng toàn bộ phức hợp tài sản đó.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 để xử lý các nguồn tài liệu thứ cấp, làm rõ các quan điểm học thuật về mua bán doanh nghiệp và hệ thống hóa các quy phạm pháp luật thực định.
- Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng xuyên suốt để so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Đức, Nga, Trung Quốc về khái niệm, hình thức giao dịch và ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế.
- Phương pháp diễn giải và quy nạp: Được sử dụng chủ yếu tại Chương 3 để khái quát từ thực tiễn áp dụng pháp luật, xây dựng các yêu cầu khoa học và luận giải hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Luật Doanh nghiệp (1999, 2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Đầu tư (2005), Nghị định 109/2008/NĐ-CP, Nghị định 116/2005/NĐ-CP.
- Dữ liệu thực tiễn và báo cáo chuyên ngành từ Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương), cơ quan đăng ký kinh doanh và các tổ chức tư vấn M&A.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về mua bán doanh nghiệp và pháp luật về mua bán doanh nghiệp
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận khoa học, làm rõ bản chất pháp lý của mua bán doanh nghiệp và xác lập nội hàm của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.
NỘI HÀM PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
Quan niệm về mua bán doanh nghiệp
Qua nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật thực định Việt Nam (Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2005; Nghị định 109/2008/NĐ-CP; Khoản 3 Điều 17 Luật Cạnh tranh 2004), tác giả chỉ ra các hạn chế trong cách tiếp cận hiện hành:
- Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ mới ghi nhận quyền bán doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân mà chưa bao quát các loại hình doanh nghiệp khác.
- Nghị định 109/2008/NĐ-CP giới hạn ở việc chuyển nhượng doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có thu tiền.
- Luật Cạnh tranh 2004 tiếp cận việc mua lại doanh nghiệp dưới góc độ mua tài sản để kiểm soát, chi phối mà chưa bao quát hết các hình thức mua lại vốn góp/cổ phần.
Từ đó, luận án xác lập quan niệm khoa học về mua bán doanh nghiệp:
Mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển nhượng toàn bộ vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối cho bên nhận chuyển nhượng. Bên nhận chuyển nhượng có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp và kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được mua lại.
Năm đặc điểm pháp lý cơ bản của mua bán doanh nghiệp
- Đối tượng mua bán là doanh nghiệp - một loại hàng hóa đặc biệt: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tư cách độc lập, có tài sản, cơ cấu quản trị và lực lượng lao động. Do đó, mua bán doanh nghiệp khác biệt với mua bán tài sản thuần túy, mua bán nợ, cho thuê doanh nghiệp hoặc tặng cho doanh nghiệp.
- Hệ quả pháp lý là bên mua nắm quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu: Quyền kiểm soát được thể hiện qua việc bên mua nắm giữ tỷ lệ biểu quyết chi phối tại các cơ quan quản trị để quyết định phương hướng kinh doanh, nhân sự và tổ chức lại doanh nghiệp. Tiêu chí này giúp phân biệt mua bán doanh nghiệp với hành vi đầu tư tài chính thuần túy (nơi nhà đầu tư chỉ nhận cổ tức hoặc hưởng chênh lệch giá mà không tham gia quản trị). Đồng thời, khác với sáp nhập doanh nghiệp (doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt tồn tại), trong giao dịch mua bán, doanh nghiệp mục tiêu vẫn duy trì tư cách pháp lý trước, trong và sau giao dịch.
- Chủ thể bán phải là chủ sở hữu doanh nghiệp: Doanh nghiệp là đối tượng giao dịch nên không thể tự bán chính mình; chỉ có chủ sở hữu doanh nghiệp mới có quyền định đoạt số phận pháp lý của doanh nghiệp đó. Bên mua là các tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện theo luật định.
- Hình thức pháp lý là hợp đồng: Giao dịch được xác lập qua hợp đồng mua bán doanh nghiệp hoặc hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối.
- Giao dịch chịu sự kiểm soát của Nhà nước theo thủ tục luật định: Thương vụ đạt ngưỡng luật định phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế tới cơ quan quản lý cạnh tranh và thực hiện đăng ký thay đổi chủ sở hữu tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Bảng so sánh mua bán doanh nghiệp với các quan hệ pháp lý tương đồng
| Tiêu chí |
Mua bán doanh nghiệp |
Sáp nhập doanh nghiệp |
Mua bán tài sản doanh nghiệp |
Đầu tư tài chính thuần túy |
| Đối tượng |
Toàn bộ hoặc phần vốn góp/cổ phần chi phối |
Toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ pháp lý |
Tài sản cụ thể của doanh nghiệp |
Cổ phần, phần vốn góp thiểu số |
| Chủ thể bán |
Chủ sở hữu doanh nghiệp |
Các doanh nghiệp tham gia sáp nhập |
Doanh nghiệp (đại diện theo pháp luật) |
Cổ đông, thành viên góp vốn |
| Tình trạng pháp lý của đối tượng |
Doanh nghiệp mục tiêu tiếp tục tồn tại |
Doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt tồn tại |
Doanh nghiệp bán tài sản vẫn tồn tại |
Doanh nghiệp phát hành cổ phần vẫn tồn tại |
| Quyền kiểm soát quản trị |
Bên mua giành quyền chi phối, quản trị |
Doanh nghiệp nhận sáp nhập thâu tóm toàn bộ |
Bên mua không có quyền quản trị doanh nghiệp bán |
Bên mua không tham gia quản trị, điều hành |
Chương 2: Thực trạng pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam, chỉ ra các vướng mắc và bất cập:
1. Quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp
- Mua bán toàn bộ doanh nghiệp: Pháp luật mới chỉ quy định cụ thể đối với doanh nghiệp tư nhân (Điều 145 Luật Doanh nghiệp 2005) và doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (Nghị định 109/2008/NĐ-CP). Đối với công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần, pháp luật chưa có quy định trực tiếp về "bán toàn bộ doanh nghiệp" mà phải thực hiện gián tiếp thông qua chuyển nhượng 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần.
- Mua bán một phần doanh nghiệp và mua bán tài sản: Ranh giới giữa chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần thông thường với chuyển nhượng phần vốn chi phối chưa được định danh rõ trong Luật Doanh nghiệp. Quy định về bán tài sản lớn của công ty (từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên) còn thiếu cơ chế bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và chủ nợ.
2. Quy định về chủ thể tham gia giao dịch
- Bên bán: Quyền định đoạt của các đồng sở hữu trong công ty TNHH và công ty cổ phần khi chuyển nhượng cổ phần chi phối cho bên thứ ba gặp rào cản từ quy định về quyền ưu tiên mua của các thành viên hiện hữu.
- Bên mua: Tồn tại sự phân biệt đối xử và rào cản tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài (tỷ lệ sở hữu tối đa, điều kiện đầu tư theo cam kết WTO và danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận).
3. Quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp
- Khung pháp luật hợp đồng điều chỉnh quan hệ mua bán doanh nghiệp phân tán giữa Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán.
- Thiếu các quy định chuẩn hóa về điều khoản bảo đảm, cam kết và bồi hoàn (Representations & Warranties, Indemnification), điều khoản bảo mật thông tin trong giai đoạn thẩm định chi tiết (Due Diligence), và hiệu lực của Ý định thư (Letter of Intent - LOI).
4. Quy định về thủ tục và kiểm soát cạnh tranh
- Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh 2004: Quy định ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế căn cứ thuần túy vào thị phần kết hợp trên thị trường liên quan (thị phần kết hợp từ 30% đến 50% phải thông báo; trên 50% bị cấm, trừ trường hợp miễn trừ). Tác giả đánh giá tiêu chí này bộc lộ nhiều điểm bất cập trong thực tiễn xác định thị trường liên quan, chưa áp dụng các tiêu chí về doanh thu, tổng tài sản hoặc giá trị giao dịch như thông lệ quốc tế.
- Thủ tục phi cạnh tranh: Thủ tục đăng ký thay đổi đăng ký kinh doanh khi chuyển nhượng phần vốn chi phối còn phức tạp, chồng chéo giữa thủ tục đầu tư và thủ tục doanh nghiệp.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý minh bạch, khả thi cho hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam:
Bốn yêu cầu hoàn thiện pháp luật
- Đổi mới tư duy quản lý nhà nước, đảm bảo sự công bằng và bảo vệ cạnh tranh: Chuyển từ cơ chế quản lý tiền kiểm nặng về hành chính sang cơ chế hậu kiểm; tạo lập môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài.
- Phản ánh thực tiễn và bảo đảm tính khả thi: Quy định pháp luật phải bắt kịp các phương thức giao dịch M&A đa dạng trên thị trường, giảm thiểu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
- Bảo đảm tính minh bạch và thống nhất: Xóa bỏ sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán và Luật Cạnh tranh.
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế: Tương thích với các điều ước quốc tế, cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, thương mại và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
Hệ thống giải pháp hoàn thiện
HỆ THỐNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN DOANH NGHIỆP
- Nhóm giải pháp chung:
- Thống nhất thuật ngữ và xây dựng khái niệm pháp lý chuẩn xác về mua bán doanh nghiệp trong các văn bản luật.
- Tăng cường năng lực thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Phát triển thị trường dịch vụ tư vấn pháp lý, thẩm định giá và môi giới tài chính M&A.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Về chủ thể và hình thức: Ghi nhận quyền bán doanh nghiệp đối với tất cả các loại hình công ty; nới lỏng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành phi nhạy cảm.
- Về hợp đồng: Bổ sung khung quy định điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng cổ phần/phần vốn góp chi phối, xác lập giá trị pháp lý của thỏa thuận tiền hợp đồng và cơ chế phân chia nghĩa vụ đối với các khoản nợ tiềm tàng, rủi ro môi trường, lao động.
- Về kiểm soát cạnh tranh: Sửa đổi Luật Cạnh tranh theo hướng bổ sung các tiêu chí kiểm soát tập trung kinh tế linh hoạt (doanh thu, giá trị giao dịch) bên cạnh tiêu chí thị phần kết hợp; hoàn thiện quy trình thẩm định sơ bộ và thẩm định chính thức các thương vụ M&A.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án của NCS. Trần Thị Bảo Ánh mang lại các kết quả và đóng góp mới:
- Về mặt lý luận: Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam; đưa ra định nghĩa khoa học về mua bán doanh nghiệp dựa trên tiêu chí chuyển nhượng vốn và quyền kiểm soát; phân định rõ ràng 5 đặc trưng pháp lý của mua bán doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với sáp nhập, mua bán tài sản, mua nợ và đầu tư tài chính.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật thực định Việt Nam (giai đoạn thi hành Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Cạnh tranh 2004); nhận diện rõ các khoảng trống pháp lý liên quan đến chủ thể, hợp đồng, thủ tục hành chính và ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế; phân tích kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Đức, Nga, Hoa Kỳ) có khả năng tham khảo cho Việt Nam.
- Về mặt giải pháp và chính sách: Đề xuất 4 yêu cầu khoa học cùng hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung các đạo luật kinh tế quan trọng, tạo nền tảng cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi ở hình thức chuyển nhượng phần vốn góp/cổ phần chi phối của chủ sở hữu hiện hữu, chưa nghiên cứu sâu hành vi mua lại doanh nghiệp thông qua phát hành tăng vốn điều lệ.
- Luận án không đi sâu vào các khía cạnh thủ tục hậu M&A (như nghĩa vụ thuế phát sinh, thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sau khi mua lại) và cơ chế giải quyết tranh chấp kinh thương phát sinh từ hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
- Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp luật thực định tại thời điểm năm 2014 (Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Cạnh tranh 2004).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát mua bán doanh nghiệp xuyên biên giới và tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
- Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong các thương vụ M&A thông qua trọng tài thương mại quốc tế.
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý hậu M&A liên quan đến bảo vệ người lao động và bảo vệ môi trường.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật Kinh tế: Tham khảo khung lý luận, hệ thống khái niệm chuẩn mực và phương pháp tiếp cận so sánh luật học về M&A.
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Cục Quản lý Cạnh tranh): Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi, hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Cạnh tranh.
- Luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý và cộng đồng doanh nghiệp: Sử dụng làm tài liệu tham khảo khi thiết kế cấu trúc thương vụ, soạn thảo hợp đồng mua bán doanh nghiệp, thực hiện thẩm định pháp lý chi tiết và kiểm soát rủi ro pháp lý trong giao dịch.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa mua bán doanh nghiệp như thế nào?
Theo luận án, mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển nhượng toàn bộ vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối cho bên nhận chuyển nhượng. Hệ quả pháp lý bắt buộc là bên nhận chuyển nhượng xác lập quyền sở hữu (toàn bộ hoặc một phần) và nắm quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
2. Sự khác biệt cốt lõi giữa mua bán doanh nghiệp và sáp nhập doanh nghiệp là gì?
Trong giao dịch sáp nhập, toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập được chuyển giao sang doanh nghiệp nhận sáp nhập và doanh nghiệp bị sáp nhập chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại pháp lý. Ngược lại, trong giao dịch mua bán doanh nghiệp, doanh nghiệp mục tiêu vẫn duy trì tư cách pháp nhân độc lập trước, trong và sau thương vụ.
3. Vì sao hành vi mua cổ phần của quỹ đầu tư tài chính không được coi là mua bán doanh nghiệp trong luận án?
Vì các quỹ đầu tư tài chính thuần túy mua cổ phần với mục đích hưởng cổ tức hoặc thặng dư giá vốn khi thoái vốn (IPO/bán lại), không nhằm mục đích nắm giữ tỷ lệ biểu quyết chi phối để tham gia điều hành hay kiểm soát hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu.
4. Bất cập lớn nhất của Luật Cạnh tranh 2004 trong kiểm soát mua bán doanh nghiệp được luận án chỉ ra là gì?
Luật Cạnh tranh 2004 quy định ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế căn cứ duy nhất vào thị phần kết hợp trên thị trường liên quan (từ 30% đến 50% phải thông báo; trên 50% bị cấm). Quy định này gây khó khăn lớn trong việc xác định chính xác thị trường liên quan và bỏ lọt nhiều thương vụ quy mô tài chính lớn nhưng thị phần tính toán chưa đạt ngưỡng.
5. Chủ thể có quyền bán doanh nghiệp được xác định là ai?
Chủ thể có quyền bán doanh nghiệp phải là chủ sở hữu doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp tư nhân, các thành viên góp vốn, cổ đông nắm giữ vốn chi phối). Doanh nghiệp chỉ là đối tượng ("hàng hóa" đặc biệt) của giao dịch mua bán chứ không thể tự bán chính mình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Bảo Ánh là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về pháp luật mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam dưới góc độ Luật Kinh tế. Luận án đã xây dựng khung lý luận vững chắc, xác lập định nghĩa khoa học và làm rõ 5 đặc trưng pháp lý phân định mua bán doanh nghiệp với các quan hệ kinh tế - dân sự tương đồng. Dựa trên việc phân tích thực trạng pháp luật thực định và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất hệ thống các yêu cầu và giải pháp lập pháp toàn diện nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý về M&A, góp phần bảo vệ trật tự cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam.