Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học được khảo sát là luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam", thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 62 38 01 07), do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Kim Tiên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Dương Đăng Huệ, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ doanh nghiệp là chủ thể cơ bản của thị trường, đóng góp ngân sách, bảo đảm dự trữ quốc gia, khai thác tài nguyên và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Để phát triển kinh tế thị trường, nguyên tắc vận hành cốt lõi là bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp (BĐGCDN), qua đó quy luật cạnh tranh thanh lọc các đơn vị yếu kém. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc Nhà nước duy trì chính sách bảo trợ, ưu tiên vốn, đất đai cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và dùng DNNN làm công cụ điều tiết kinh tế đi ngược lại nguyên tắc thị trường, trong khi hiệu quả hoạt động của khu vực này chưa tương xứng. Vấn đề vướng mắc lớn cả về lý luận và thực tiễn là xử lý mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với yêu cầu bình đẳng của các thành phần kinh tế khác.

Về bối cảnh quốc tế, khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006, Việt Nam đã ký cam kết chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME) trong thời hạn 12 năm (hướng tới đạt quy chế kinh tế thị trường không muộn hơn năm 2019) và tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Các cam kết này đòi hỏi cải cách thể chế kinh tế theo hướng không phân biệt đối xử. Dù chủ trương bình đẳng đã được ghi nhận từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Hiến pháp 1992 và Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 về đổi mới quản lý nhà nước không phân biệt hình thức sở hữu, thực tế tình trạng bất bình đẳng vẫn gia tăng. DNNN vẫn giữ vị thế độc quyền, được khoanh nợ, giãn nợ, sáp nhập cứu trợ mà không bị phá sản; ngược lại, khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) gặp nhiều rào cản về điều kiện kinh doanh, vốn và đất đai. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, buôn lậu, trốn thuế và kinh doanh không chính thức diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải nghiên cứu một hệ thống giải pháp pháp lý toàn diện.

Mục đích nghiên cứu của luận án là cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam. Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về bình đẳng, BĐGCDN, quyền BĐGCDN; đánh giá ý nghĩa của việc bảo đảm quyền này, vai trò của pháp luật và các yếu tố chi phối.
  2. Rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam, đánh giá ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành về quyền BĐGCDN.
  3. Thu thập thông tin, tài liệu thực tiễn áp dụng pháp luật, đánh giá mặt đạt được, hạn chế, từ đó xác định nguyên nhân và hệ quả của tình trạng bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp.
  4. Đưa ra các giải pháp tổng thể nhằm hoàn thiện nội dung pháp luật và thiết chế bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được tác giả thiết lập qua sáu nội dung:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Bình đẳng là gì và bình đẳng giữa các doanh nghiệp là gì? Giả thuyết nghiên cứu: Có sự nhầm lẫn giữa bình đẳng của các doanh nghiệp với bình đẳng của thành phần kinh tế.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Quyền BĐGCDN là gì? Giả thuyết nghiên cứu: Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều chủ thể kinh doanh; để tồn tại và hoạt động, doanh nghiệp cần được bình đẳng về mặt pháp lý trong giao dịch với đối tác và trong quan hệ với nhà nước (ngang bằng về điều kiện vay vốn, ưu đãi và thực hiện nghĩa vụ thuế).
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Tại sao lại phải đặt vấn đề BĐGCDN và tại sao phải bảo đảm quyền BĐGCDN? Giả thuyết nghiên cứu: Tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh và BĐGCDN là nguyên tắc thị trường, là cơ sở vận hành quy luật cạnh tranh, tạo động lực phát triển kinh tế.
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực tế có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam hay không? Giả thuyết nghiên cứu: Có tình trạng bất BĐGCDN ở Việt Nam, để lại các hậu quả tiêu cực đối với kinh tế và xã hội.
  • Câu hỏi nghiên cứu 5: Nguyên nhân nào gây ra bất BĐGCDN ở Việt Nam hiện nay? Giả thuyết nghiên cứu: Có các quy định pháp luật mang tính phân biệt đối xử doanh nghiệp và quá trình thực thi vi phạm quyền BĐGCDN bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu xa khác nhau.
  • Câu hỏi nghiên cứu 6: Những giải pháp nào có thể đem lại hiệu quả cho việc bảo đảm quyền BĐGCDN ở Việt Nam? Giả thuyết nghiên cứu: Hoàn thiện chế định pháp luật về quyền BĐGCDN và bảo đảm thiết chế thực thi pháp luật có thể giúp các doanh nghiệp vận hành và thực hiện mọi giao dịch bình đẳng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005 (không bao gồm hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể); đồng thời khảo sát quyền BĐGCDN gắn với ba giai đoạn: (i) thành lập doanh nghiệp, (ii) hoạt động kinh doanh, và (iii) giải thể, phá sản doanh nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình khoa học trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:

Nhóm nghiên cứu lý luận về bình đẳng và quyền BĐGCDN: Tác giả khảo cứu Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020); Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý định nghĩa bình đẳng là sự ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi; công trình biên dịch của Tô Hồng Quân về quan niệm tự do bình đẳng của tư bản và vô sản phản ánh quan điểm mác-xít (C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin, J. Stalin) bác bỏ chủ nghĩa bình quân cào bằng; luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn phân tích công bằng xã hội (CBXH) là sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, vi phạm và trách nhiệm; kỷ yếu của GS.TS Phạm Quang Phan khẳng định công bằng trong phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất; nghiên cứu của Tô Nguyễn Cẩm Anh chỉ ra bất bình đẳng trong thủ tục phá sản khi không miễn trừ nghĩa vụ tài sản cho doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và thành viên hợp danh; các Giáo trình Luật thương mại (2006), Giáo trình Luật kinh tế (2003) và Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2003) của Trường Đại học Luật Hà Nội làm rõ địa vị pháp lý độc lập, quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ thuế của DNTN; luận án tiến sĩ của Bùi Ngọc Cường (2002) về quyền tự do kinh doanh trên nền tảng kinh tế - chính trị - xã hội.

Nhóm nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực thi: PGS.TS Nguyễn Như Phát nhận định Luật Doanh nghiệp 2005 mới chỉ tạo bình đẳng ở khâu đăng ký kinh doanh; ThS. Đào Trung Kiên chỉ ra sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tại Khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư 2005; TS. Phạm Tuấn Khải phân tích sự bất bình đẳng trong pháp luật đất đai và rào cản tố tụng đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Nghị định 87/2003/NĐ-CP; TS. Vũ Đặng Hải Yến phân tích việc cấm công ty hợp danh phát hành trái phiếu gây hạn chế huy động vốn; TS. Nguyễn Chí Thành chỉ rõ độc quyền nhà nước làm méo mó sân chơi chung; công trình khảo sát về hoạt động kinh doanh không chính thức (2002-2003) vạch rõ bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công; TS. Nguyễn Minh Phong phản ánh định kiến đối với khu vực kinh tế tư nhân; TS. Nguyễn Kế Tuấn chỉ ra vai trò "kép" của Nhà nước vừa là chủ sở hữu vừa quản lý vĩ mô; đề tài nghiên cứu về đổi mới quản lý nhà nước của nhóm tác giả Bộ Kế hoạch và Đầu tư phản ánh việc DNTN phải thuê lại đất của DNNN; PGS.TS Nguyễn Đình Tài phân tích việc trốn thuế, trốn bảo hiểm xã hội và hiện tượng công chức làm "lá chắn" sân sau cho doanh nghiệp; TS. Đặng Vũ Huân nghiên cứu độc quyền nhà nước; TS. Lê Anh Tuấn chỉ ra hành vi ép buộc đại lý độc quyền bán lẻ; Afanas'eva Juliaja Andreevna phân tích cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ thông tin; Michael U. Klein và Bita Hadjimichael (2003) cảnh báo rủi ro bao cấp DNTN vì động cơ chính trị; Will L. Meggison và Jeffry M. Netter phân tích tư nhân hóa ở hơn 100 quốc gia gắn với thất bại thị trường và thất bại nhà nước; Tim Lindsey đánh giá bất cập của Luật Cạnh tranh Indonesia (Luật số 5 năm 1999); các quy định tại Điều 106 và Điều 345 Hiệp ước về Hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU) về trung lập sở hữu và cơ chế miễn trừ dịch vụ kinh tế vì lợi ích chung (SGEL); cùng các lý thuyết kinh tế học của Adam Smith, Joan Robinson và Edward Chamberlin (1933).

Nhóm nghiên cứu giải pháp: TS. Trần Tiến Cường đề xuất ba nhóm giải pháp tách bạch quản lý nhà nước và sở hữu; TS. Aleksandr Shkolnikov (CIPE) nêu kinh nghiệm hiệp hội doanh nghiệp tại Nga chống tham nhũng; Dominique Pannier đề xuất tư nhân hóa và thắt chặt ngân sách; Harry G. Broadman phân tích mô hình Ủy ban chống độc quyền (AMC) tại Uzbekistan và Trung Á; các nghiên cứu của OECD, Lars Johan Cederlund (Thụy Điển), Capobianco và Christiansen về cải cách quản trị và xóa bỏ lợi thế cạnh tranh của DNNN.

Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu trong văn bản Trọng tâm học thuật được trích dẫn
Lý luận về bình đẳng và công bằng Nguyễn Như Ý, Tô Hồng Quân, Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phan, Bùi Ngọc Cường Bác bỏ cào bằng; xác lập nguyên tắc tương thích giữa cống hiến và hưởng thụ, quyền và nghĩa vụ
Bất cập trong các đạo luật chuyên ngành Nguyễn Như Phát, Đào Trung Kiên, Phạm Tuấn Khải, Vũ Đặng Hải Yến Phân biệt đối xử trong đăng ký đầu tư, tiếp cận đất đai, tố tụng tư pháp và phát hành trái phiếu
Thực trạng thực thi và kinh tế không chính thức Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Kế Tuấn, Nguyễn Đình Tài, Đặng Vũ Huân, Lê Anh Tuấn Vai trò kép của nhà nước; thiên vị DNNN; kinh doanh ngầm, trốn thuế và ép buộc quan hệ đại lý
Kinh nghiệm quốc tế và cải cách thể chế TFEU (EU), Tim Lindsey, Broadman, Pannier, Cederlund, Shkolnikov, OECD Nguyên tắc trung lập sở hữu Điều 345 TFEU; kiểm soát độc quyền; vai trò của hiệp hội doanh nghiệp

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận vấn đề ở từng đạo luật riêng rẽ, xem xét bình đẳng dưới góc độ kinh tế học hoặc cải cách hành chính cục bộ. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ khoa học pháp lý về quyền BĐGCDN; chưa phân định ranh giới giữa bình đẳng thành phần kinh tế với bình đẳng doanh nghiệp; chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí định lượng và định tính đánh giá quyền BĐGCDN xuyên suốt chu trình sống của doanh nghiệp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý luận độc lập và đề xuất mô hình giải pháp đồng bộ cả về quy phạm nội dung lẫn thiết chế bảo đảm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhà nước pháp quyền, chế độ sở hữu và thành phần kinh tế. Tác giả vận dụng các học thuyết kinh tế học về cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền của Adam Smith, Joan Robinson, Edward Chamberlin; lý thuyết về sự thất bại của thị trường và thất bại của chính phủ của Meggison và Netter; cùng các nguyên tắc không phân biệt đối xử của GATT/WTO và nguyên tắc trung lập sở hữu trong pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu (Điều 106, 345 TFEU).

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng thuần túy phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp pháp lý chuyên ngành, không sử dụng các mô hình kinh tế lượng hay kiểm định thống kê. Các phương pháp được phân bổ cụ thể theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá các công trình khoa học trong và ngoài nước, xác định các vấn đề đã giải quyết và vấn đề còn bỏ ngỏ.
  • Chương 2: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử gắn với phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các quan niệm về bình đẳng, BĐGCDN và quyền BĐGCDN trong bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp hệ thống hóa để kế thừa kết quả nghiên cứu đã công bố; kết hợp phương pháp phân tích, đánh giá văn bản pháp luật và dữ liệu thực tế nhằm chỉ ra nguyên nhân, hệ quả của bất bình đẳng.
  • Chương 4: Áp dụng phương pháp phân tích, phương pháp dự báo khoa học để xây dựng các kiến nghị hoàn thiện thể chế và thiết chế pháp lý.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm: Hệ thống văn kiện của Đảng (Đại hội VI, Đại hội XI); Hiến pháp 1992; các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Doanh nghiệp 1999 và 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Đất đai, Luật Luật sư, Nghị định 87/2003/NĐ-CP, Đề án 1715/2009/QĐ-TTg); các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, GATT, TPP và TFEU; các báo cáo thực tiễn về kinh doanh không chính thức giai đoạn 2002-2003; cùng các dữ liệu báo cáo tư pháp về xử lý tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm chức vụ tại Tòa án và Viện kiểm sát (ghi nhận qua Bảng 3.1 và Bảng 3.2 trong văn bản).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng Văn kiện Đại hội Đảng XI đặt ra định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, trọng tâm là cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, nhưng hệ thống lý luận pháp lý về BĐGCDN chưa được giải thích rõ. Các nghiên cứu trước đây đã tiếp cận bình đẳng dưới góc độ từ điển học (Nguyễn Như Ý), triết học và chính trị học mác-xít (Tô Hồng Quân, C. Mác, Lênin, Stalin), hoặc góc độ công bằng xã hội (Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phan). Giáo trình Luật thương mại (2006) và Luật kinh tế (2003) của Đại học Luật Hà Nội bước đầu ghi nhận quyền bình đẳng của DNTN trước pháp luật trong thành lập, kinh doanh và nộp thuế.

Về thực trạng, các tài liệu của Nguyễn Như Phát, Đào Trung Kiên, Phạm Tuấn Khải, Vũ Đặng Hải Yến đã bóc tách sự bất bình đẳng trong đăng ký đầu tư, tiếp cận đất đai và phát hành trái phiếu. Hiện tượng phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân và vai trò kép của Nhà nước được phân tích qua nghiên cứu của Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Kế Tuấn, Nguyễn Đình Tài và ấn phẩm khảo sát năm 2002-2003. Ở phạm vi quốc tế, tác giả phân tích kinh nghiệm kiểm soát độc quyền tại Indonesia (Tim Lindsey), kinh nghiệm quản trị DNNN tại Uzbekistan (Broadman), Nga (Shkolnikov), Thụy Điển (Cederlund), các nước OECD và nguyên tắc bình đẳng Điều 106, 345 TFEU của EU. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một công trình độc lập, nghiên cứu toàn diện quyền BĐGCDN dưới góc độ luật học.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP

Chương 2 tập trung luận giải bản chất triết học và pháp lý của bình đẳng. Bác bỏ quan niệm của Aristote, Platon, Hobbes và Steven Goldberg coi bất bình đẳng là tất yếu tự nhiên do khác biệt sinh học, tác giả kế thừa luận điểm của Rousseau và C. Mác khẳng định bất bình đẳng xã hội bắt nguồn từ sở hữu và kết cấu giai cấp. Stalin và Mác từng vạch rõ sai lầm của chủ nghĩa bình quân cào bằng trong Cương lĩnh Gô-ta (1875); bình đẳng là dùng cùng một thước đo lao động để đo lường mức độ cống hiến. Luận án phân biệt công bằng ngang (phân phối ngang nhau cho các chủ thể có cùng điều kiện/cơ hội) và công bằng dọc (phân phối khác nhau cho các chủ thể có điều kiện/cơ hội khác nhau). Bình đẳng bao hàm cả hai chiều kích này và được định nghĩa là cách ứng xử của xã hội đối với các chủ thể, theo nguyên tắc mọi chủ thể có cùng điều kiện đều được đối xử như nhau, tương xứng với quyền lợi là nghĩa vụ, tương xứng với cống hiến là phần lợi ích nhận lại.

Từ đó, luận án xác lập khái niệm BĐGCDN: Mọi doanh nghiệp đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau khi các doanh nghiệp này có cùng điều kiện như nhau. BĐGCDN phải thỏa mãn đồng thời hai tiêu chí:

  1. Sự tương thích giữa quyền lợi và nghĩa vụ: Căn cứ vào đóng góp hoặc thiệt hại do doanh nghiệp tạo ra để xác định quyền và trách nhiệm tương ứng (ví dụ: đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với doanh nghiệp sản xuất rượu, bia, thuốc lá, vũ trường; áp thuế bảo vệ môi trường và quy chuẩn phòng cháy với kinh doanh xăng dầu).
  2. Tính không ngoại lệ trong đối tượng áp dụng: Mọi doanh nghiệp có cùng điều kiện đều chịu sự điều chỉnh pháp luật như nhau, không có miễn trừ cá biệt.

Chương này cũng phân tích mô hình Hình 2.1 về tác động của các chủ thể (Nhà nước, hiệp hội, đối tác, người tiêu dùng) tạo ra bình đẳng hoặc bất bình đẳng; phân loại bất bình đẳng theo giai đoạn hoạt động, theo chủ thể gây ra, theo hình thức sở hữu (DNNN với ngoài nhà nước), theo quốc tịch (trong nước với FDI), theo loại hình doanh nghiệp và theo quy mô. Luận án khẳng định chính sách ưu tiên hoặc hạn chế đầu tư của Nhà nước không mâu thuẫn với BĐGCDN nếu được thực hiện thông qua đấu thầu công khai theo ngành nghề, vùng miền mà không gắn vào các doanh nghiệp cụ thể.

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP

Chương 3 rà soát thực trạng pháp luật và thực thi tại Việt Nam. Về mặt pháp luật, các hạn chế được chỉ ra: Luật Doanh nghiệp 2005 cấm công ty hợp danh phát hành mọi loại chứng khoán (kể cả trái phiếu) làm giảm khả năng huy động vốn dù thành viên hợp danh liên đới chịu trách nhiệm vô hạn; Luật Đầu tư 2005 phân biệt thủ tục đăng ký đầu tư và thẩm tra đầu tư giữa dự án trong nước và dự án FDI (Khoản 1 Điều 50); Luật Đất đai hạn chế nhà đầu tư nước ngoài tham gia đấu giá đất có thu tiền; Luật Cạnh tranh 2004 chưa bao quát hết các hành vi cạnh tranh tinh vi (như ép buộc đại lý độc quyền bán lẻ) và chưa xử lý triệt để độc quyền nhà nước; pháp luật phá sản không cho phép DNTN và thành viên hợp danh được miễn trừ nghĩa vụ tài sản còn lại sau phá sản.

Về thực trạng thực thi, Nhà nước duy trì vị thế "kép" khiến công chức có xu hướng thiên vị DNNN trong cấp vốn, khoanh nợ, cơ cấu lại nợ và giao đất. DNNN được ưu ái sử dụng đất mà giá trị quyền sử dụng đất lâu nay không được hạch toán đầy đủ vào tài sản doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp dân doanh phải thuê lại với chi phí cao. Mặt khác, các hoạt động kinh doanh không chính thức gia tăng: doanh nghiệp cấu kết với cán bộ thuế để trốn thuế, không ký hợp đồng lao động để trốn bảo hiểm xã hội, sử dụng quan hệ công chức làm bình phong bảo trợ hoặc góp vốn "sân sau".

Thực trạng vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến trật tự kinh tế được phản ánh qua các báo cáo thống kê tư pháp tại Bảng 3.1 và Bảng 3.2 trong danh mục của luận án:

  • Bảng 3.1: Báo cáo các vụ vi phạm theo Điều 159 Bộ luật Hình sự (chương tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế).
  • Bảng 3.2: Báo cáo các vụ vi phạm theo Điều 279, 289 Bộ luật Hình sự (về tội đưa và nhận hối lộ).

Các số liệu này minh chứng rằng sự tồn tại của tham nhũng và các chi phí không chính thức đã làm méo mó cơ chế cạnh tranh, tạo đặc quyền bất hợp pháp cho các doanh nghiệp vi phạm và gây bất lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh chân chính. Luận án phân tích 4 nhóm nguyên nhân gây bất bình đẳng: (1) Nhận thức nhầm lẫn giữa bình đẳng thành phần kinh tế với bình đẳng doanh nghiệp; (2) Mâu thuẫn từ vai trò đại diện chủ sở hữu và điều tiết vĩ mô của Nhà nước; (3) Hạn chế, kẽ hở và thiếu minh bạch trong các văn bản quy phạm pháp luật; (4) Năng lực, đạo đức công vụ của cán bộ và văn hóa doanh nghiệp còn hạn chế. Hệ quả là làm sai lệch phân bổ nguồn lực, nản lòng nhà đầu tư, suy giảm tăng trưởng kinh tế và gây khó khăn cho việc đàm phán công nhận quy chế kinh tế thị trường.

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chương 4 đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính hệ thống nhằm giải quyết các nguyên nhân đã được nhận diện:

Hoàn thiện nội dung quyền BĐGCDN:

  • Sửa đổi Luật Doanh nghiệp: Cho phép công ty hợp danh được phát hành trái phiếu để huy động vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh; thống nhất quy chế pháp lý về phá sản đối với các loại hình doanh nghiệp.
  • Sửa đổi Luật Đầu tư và Luật Đất đai: Bãi bỏ sự phân biệt đối xử về thủ tục đăng ký, thẩm tra đầu tư giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; tạo cơ chế bình đẳng cho doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp dân doanh trong việc tiếp cận đất đai, tham gia đấu thầu và đấu giá quyền sử dụng đất; tính đúng, tính đủ giá trị quyền sử dụng đất vào tài sản DNNN.
  • Cải cách chính sách đối với DNNN: Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, bảo lãnh vốn vô điều kiện; thu hẹp phạm vi độc quyền nhà nước; kiên quyết áp dụng thủ tục phá sản đối với DNNN kinh doanh thua lỗ kéo dài, không dùng biện pháp hành chính sáp nhập cơ học để cứu trợ.
  • Minh bạch hóa chính sách ưu tiên và miễn trừ: Tiếp thu kinh nghiệm từ Điều 106(2) TFEU của EU về dịch vụ kinh tế vì lợi ích chung (SGEL) để thiết lập ba điều kiện miễn trừ áp dụng quy tắc cạnh tranh: nhiệm vụ phục vụ lợi ích chung, quan hệ nhân quả cần thiết, và tính tương xứng không gây phương hại đến thị trường. Mọi chính sách hỗ trợ, ưu đãi phải được đấu thầu công khai theo lĩnh vực hoặc địa bàn.

Hoàn thiện các quy định pháp luật về thiết chế bảo đảm:

  • Tách bạch dứt điểm chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp thông qua mô hình cơ quan chuyên trách quản lý vốn độc lập, loại bỏ tình trạng các bộ vừa quản lý ngành vừa quản lý doanh nghiệp trực thuộc.
  • Hoàn thiện cơ quan quản lý và tài phán cạnh tranh: Tăng cường tính độc lập, thẩm quyền và ngân sách cho cơ quan quản lý cạnh tranh (tương tự mô hình AMC của Uzbekistan và các nước Trung Á); chuyển từ cơ chế kiểm soát giá hành chính sang hệ thống giám sát thị trường và kiểm soát lạm dụng vị trí thống lĩnh.
  • Tăng cường kỷ luật công vụ và kiểm soát kinh doanh không chính thức: Hoàn thiện chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi đưa và nhận hối lộ, trốn thuế, bảo kê doanh nghiệp; minh bạch hóa trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức.
  • Phát huy vai trò giám sát xã hội: Nâng cao năng lực và vị thế của các hiệp hội ngành nghề trong việc trợ giúp pháp lý, tham gia đấu thầu minh bạch, vận hành đường dây nóng chống nhũng nhiễu và đối thoại chính sách (học hỏi kinh nghiệm CIPE tại Nga).
Tên chương theo văn bản Luận điểm then chốt Dữ liệu, thiết chế và căn cứ thực tế
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chưa có công trình pháp lý toàn diện; xác lập khoảng trống về lý luận và thực tiễn BĐGCDN Khảo cứu các công trình trong nước (Nguyễn Như Ý, Tô Hồng Quân, Vũ Anh Tuấn,...) và quốc tế (TFEU, OECD, Lindsey,...)
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền BĐGCDN BĐGCDN đòi hỏi tính tương thích (quyền - nghĩa vụ) và tính không ngoại lệ; không mâu thuẫn với ưu tiên ngành Mô hình Hình 2.1; học thuyết giá trị lao động của Mác; các ví dụ về thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môi trường
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về quyền BĐGCDN Phân biệt đối xử pháp lý trong đầu tư, đất đai, trái phiếu; vai trò kép của Nhà nước và kinh tế không chính thức Bảng 3.1 (Điều 159 BLHS); Bảng 3.2 (Điều 279, 289 BLHS); các rào cản tại Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005
Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền BĐGCDN ở Việt Nam Sửa đổi quy định nội dung (vốn, đất đai, thủ tục); tái cấu trúc thiết chế bảo đảm độc lập Áp dụng tiêu chí SGEL của EU; mô hình AMC (Uzbekistan); mô hình hiệp hội doanh nghiệp chống tham nhũng (Nga)

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng kết bốn đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn tại phần mở đầu và kết luận của công trình:

Thứ nhất, luận án đã làm rõ bản chất của bình đẳng, BĐGCDN và quyền BĐGCDN dưới góc độ khoa học pháp lý. Công trình chỉ rõ BĐGCDN không đồng nghĩa với chủ nghĩa bình quân cào bằng mà là sự kết hợp giữa công bằng ngang và công bằng dọc, đòi hỏi sự tương thích giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa vi phạm và trách nhiệm pháp lý. Đồng thời, luận án chứng minh rằng việc bảo đảm quyền BĐGCDN không mâu thuẫn với chính sách ưu tiên hay hạn chế trong đầu tư kinh doanh của Nhà nước, miễn là chính sách đó được minh bạch hóa theo ngành nghề, vùng miền và thực hiện qua cơ chế đấu thầu cạnh tranh, không nhắm vào doanh nghiệp cụ thể.

Thứ hai, luận án xây dựng định nghĩa khoa học, xác định nội dung và đưa ra hai tiêu chí đánh giá BĐGCDN: (i) sự tương thích giữa quyền lợi và nghĩa vụ; (ii) tính không ngoại lệ trong đối tượng áp dụng. Trên cơ sở đó, luận án làm rõ vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ thể chế hóa và bảo đảm thực hiện quyền BĐGCDN, đồng thời chỉ ra các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội chi phối hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật.

Thứ ba, luận án tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến doanh nghiệp trong suốt ba giai đoạn (thành lập, hoạt động kinh doanh, giải thể/phá sản). Luận án đã chỉ ra các điểm bất cập trong Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Cạnh tranh 2004 và pháp luật đất đai; phân tích thực trạng thực thi bị bóp méo do vai trò "kép" của Nhà nước và sự lan rộng của các hoạt động kinh doanh không chính thức; từ đó xác định bốn nhóm nguyên nhân chủ yếu gây ra bất bình đẳng.

Thứ tư, luận án đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể, kết hợp giữa việc hoàn thiện nội dung quy phạm pháp luật với hoàn thiện thiết chế bảo đảm thực thi. Các giải pháp được xây dựng trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (quy tắc cạnh tranh và miễn trừ SGEL theo TFEU của EU, quản trị DNNN của OECD, kinh nghiệm cơ quan chống độc quyền AMC tại Trung Á và vai trò của hiệp hội doanh nghiệp tại Nga), bảo đảm tính phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005, chưa mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các chủ thể kinh doanh phi doanh nghiệp như hợp tác xã hay hộ kinh doanh cá thể. Ngoài ra, do hoàn thành vào năm 2014, các phân tích thực trạng pháp lý của luận án gắn liền với khung khổ của Hiến pháp 1992, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Cạnh tranh 2004 và các số liệu xử lý vi phạm pháp luật hình sự theo Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi 2009).

Về hướng nghiên cứu tiếp, từ các giới hạn nêu trên, các công trình tiếp nối có thể mở rộng nghiên cứu sang:

  • Đánh giá quyền bình đẳng kinh doanh của các chủ thể kinh tế khác (hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể) trong mối tương quan với doanh nghiệp.
  • Khảo sát sự thay đổi của khung khổ pháp lý Việt Nam sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, cùng các đạo luật mới thay thế Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005 và Luật Cạnh tranh 2004.
  • Đánh giá thực thi quyền BĐGCDN trong bối cảnh Việt Nam đã hoàn tất thời hạn cam kết 12 năm về nền kinh tế phi thị trường (sau năm 2018) và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với những tiêu chuẩn khắt khe về doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp.

Giá trị tham khảo

Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Kim Tiên chứa đựng nhiều giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn:

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Các luận cứ tại Chương 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Quản lý Cạnh tranh trong việc rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai và cạnh tranh; đặc biệt là việc xây dựng tiêu chí minh bạch cho các chính sách ưu đãi, miễn trừ và hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh độc lập.
  • Đối với các cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Công trình cung cấp hệ thống tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, Luật thương mại, Quản lý kinh tế; giúp làm rõ khung lý thuyết về mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với nguyên tắc bình đẳng thị trường.
  • Đối với cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội: Luận án hỗ trợ các nhà đầu tư tư nhân, doanh nghiệp FDI nhận diện rõ các quyền pháp lý được bảo đảm, cơ chế khiếu nại chống hành vi ép buộc kinh doanh, và cung cấp luận cứ cho các hiệp hội ngành nghề trong hoạt động phản biện chính sách kinh tế.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống tiêu chí kép xác định BĐGCDN tại Chương 2 và phần phân tích cơ chế miễn trừ SGEL theo kinh nghiệm EU kết hợp giải pháp tái cấu trúc thiết chế giám sát cạnh tranh tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp được luận án quan niệm như thế nào và dựa trên những tiêu chí đánh giá cốt lõi nào? Luận án quan niệm: Mọi doanh nghiệp đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau khi các doanh nghiệp này có cùng điều kiện như nhau. Khái niệm này đòi hỏi phải thỏa mãn đồng thời hai tiêu chí: (i) Sự tương thích giữa quyền lợi và nghĩa vụ, theo đó mức độ đóng góp hoặc thiệt hại do doanh nghiệp gây ra cho xã hội là căn cứ để quy định quyền và trách nhiệm tương ứng (đóng góp nhiều hưởng nhiều, đóng góp ít hưởng ít, gây hại phải bồi hoàn); (ii) Tính không ngoại lệ trong đối tượng áp dụng, bảo đảm mọi doanh nghiệp khi ở vào cùng điều kiện, hoàn cảnh thì đều chịu sự điều chỉnh pháp luật như nhau, không có quy định cá biệt dành riêng cho bất kỳ chủ thể nào.

2. Chính sách ưu tiên hoặc hạn chế đầu tư của Nhà nước có mâu thuẫn với nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp hay không? Luận án khẳng định chính sách ưu tiên hoặc hạn chế đầu tư không mâu thuẫn với bản chất của BĐGCDN nếu chính sách đó không đặt sự ưu tiên vào những doanh nghiệp cụ thể. Nhà nước sử dụng chính sách ưu tiên để kích thích sản xuất hoặc định hướng kinh tế. Để bảo đảm bình đẳng, Nhà nước phải minh bạch hóa điều kiện, công khai ngành nghề, vùng miền ưu tiên và tổ chức đấu thầu công khai. Bất kỳ doanh nghiệp nào đáp ứng đủ điều kiện và trúng thầu đều được hưởng ưu đãi. Đối với chính sách hạn chế, Nhà nước áp dụng theo ngành nghề kinh doanh chứ không áp dụng cho từng chủ thể doanh nghiệp.

3. Hoạt động kinh doanh không chính thức tác động như thế nào đến sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam? Theo các nghiên cứu được luận án tổng quan (như công trình của Nguyễn Đình Tài và nhóm tác giả khảo sát 2002-2003), kinh doanh không chính thức tạo ra lợi thế cạnh tranh bất hợp pháp cho các doanh nghiệp không tuân thủ pháp luật. Các hành vi thông đồng với cán bộ thuế để bớt hoặc trốn thuế, không ký hợp đồng lao động để tránh đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và sử dụng công chức làm "lá chắn" bảo trợ sân sau đã làm sai lệch phân bổ nguồn lực, trực tiếp đẩy các doanh nghiệp kinh doanh nghiêm túc, tuân thủ pháp luật vào thế bất lợi và làm méo mó môi trường cạnh tranh.

4. Luận án chỉ ra những điểm bất cập, phân biệt đối xử cụ thể nào trong Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Đầu tư 2005? Luận án chỉ rõ: Trong Luật Doanh nghiệp 2005, công ty hợp danh bị cấm phát hành mọi loại chứng khoán, bao gồm cả trái phiếu (vốn chỉ là chứng chỉ ghi nợ không làm thay đổi tính chất đối nhân), khiến khả năng huy động vốn của loại hình này bị hạn chế so với công ty cổ phần và công ty TNHH. Trong Luật Đầu tư 2005, Khoản 1 Điều 50 quy định sự phân biệt đối xử khi các dự án đầu tư trong nước có thể không phải làm thủ tục đăng ký, trong khi mọi dự án của nhà đầu tư nước ngoài (bất kể quy mô vốn) đều bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư gắn với tổ chức kinh tế.

5. Kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa độc quyền nhà nước và cạnh tranh bình đẳng của Liên minh Châu Âu (EU) được luận án phân tích qua quy định nào? Luận án dẫn chiếu Điều 106 và Điều 345 Hiệp ước về Hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU). Điều 345 xác lập nguyên tắc trung lập về sở hữu, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp công và tư. Khoản 1 Điều 106 quy định toàn bộ nghĩa vụ cạnh tranh, chống độc quyền và cấm trợ cấp nhà nước được áp dụng chung cho cả công ty nhà nước và tư nhân. Để thực hiện ngoại lệ vì lợi ích công cộng (SGEL), Khoản 2 Điều 106 minh bạch hóa ba điều kiện khắt khe: (1) Doanh nghiệp phải được giao thực hiện một nhiệm vụ vì lợi ích kinh tế chung; (2) Có quan hệ nhân quả (việc hạn chế cạnh tranh là thực sự cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ); (3) Bảo đảm tính tương xứng (thương mại không bị ảnh hưởng đến mức đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Kim Tiên là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý về quyền bình đẳng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án đã xây dựng khung lý luận độc lập, xác lập hệ thống khái niệm cùng hai tiêu chí đánh giá cốt lõi về tính tương thích và tính không ngoại lệ của quyền bình đẳng. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực thi tại Việt Nam, công trình đã vạch rõ những rào cản thể chế, hệ quả của vai trò kép từ phía Nhà nước cũng như tác động tiêu cực của khu vực kinh tế không chính thức. Hệ thống giải pháp đồng bộ về quy phạm nội dung và thiết chế bảo đảm mà luận án đề xuất cung cấp nền tảng khoa học vững chắc phục vụ công tác lập pháp, cải cách doanh nghiệp nhà nước và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.