Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả luận án sẽ đánh giá các công trình khoa học trong nước, quốc tế về những vấn đề liên quan đến nội dung luận án. Luận án sẽ kiểm chứng, kế thừa những vấn đề đã được làm rõ, tiếp tục giải quyết những vấn đề còn bỏ ngỏ. Trong chương này, những vấn đề có liên quan đến nội dung luận án được trình bày theo lôgic từ lý luận đến thực trạng và giải pháp. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG, QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Nghiên cứu các quan niệm về bình đẳng, bình đẳng giữa các doanh nghiệp và quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 1. Các quan niệm về bình đẳng Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, phần chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 có định hướng: "Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế" [16, tr. Tuy nhiên, trong toàn nội dung văn kiện đều không tìm thấy bất kỳ định nghĩa hay giải thích nào về cạnh tranh bình đẳng hay BĐGCDN. Pháp luật Việt Nam triển khai chính sách của Đảng về bảo đảm quyền BĐGCDN cũng không có quy định nào đưa ra khái niệm hay giải thích thế nào là BĐGCDN.
Một số công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến khái niệm bình đẳng ở những góc nhìn khác nhau và gián tiếp đề cập đến những khía cạnh nhất định về BĐGCDN. Trong Đại Từ điển tiếng Việt, tác giả Nguyễn Như Ý có ghi: "bình đẳng là ngang nhau về nghĩa vụ và quyền lợi" [93]. Cuốn sách Quan niệm tự do bình đẳng của tư bản và vô sản, do Tô Hồng Quân biên dịch không đề cập đến bình đẳng doanh nghiệp nhưng đã nêu ra các quan điểm và những tranh luận về bình đẳng. Trong cuốn sách này, quan điểm mác-xít thể hiện rõ trong những lập luận, phản biện của Mác - Ăngghen, Lênin và sau này là Stalin trước những chỉ trích của chủ 17 nghĩa tư bản về bình đẳng của các nước theo mô hình XHCN.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhận định bình đẳng không có nghĩa là cào bằng trong mọi điều kiện mà trên cơ sở phù hợp với những đóng góp là quyền lợi mà một chủ thể được hưởng [35]. Luận án tiến sĩ của Vũ Anh Tuấn nghiên cứu về công bằng xã hội (CBXH) cũng có những luận giải liên quan đến bình đẳng. Khi phân tích CBXH, tác giả viết: "tuy có những điểm tương đồng song công bằng xã hội không phải là khái niệm đồng nghĩa với bình đẳng xã hội" [86, tr. Theo tác giả thì, CBXH là khái niệm chỉ sự tương xứng giữa vai trò và vị thế của các thành viên xã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm xã hội), giữa cái mà họ tạo ra được cho xã hội với cái mà họ nhận lại từ xã hội (cái tạo ra và cái nhận lại có thể là điều tốt lành hoặc ngược lại) như cống hiến và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và nghĩa vụ, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý.
Không có sự tương xứng nói trên là bất công xã hội [86, tr. Tác giả quan niệm bình đẳng xã hội có phạm vi rộng hơn và bao quát hơn cả CBXH. Cùng quan điểm với tác giả Vũ Anh Tuấn, trong kỷ yếu Hội thảo khoa học Đề tài cấp nhà nước KX04/19/06-10, GS.TS Phạm Quang Phan nhận định: "Công bằng được hiểu là sự phù hợp và tương xứng giữa cái đóng góp và cống hiến của cá nhân cho xã hội với cái mà cá nhân thụ hưởng và nhận lại từ xã hội xét về tất cả các khía cạnh". Để làm rõ hơn, tác giả viết: "Công bằng xã hội dù được thực hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng, tương xứng giữa nghĩa vụ và quyền lợi, cống hiến và hưởng thụ".
CBXH là công bằng trong mọi lĩnh vực: chính trị, pháp lý, kinh tế, văn hóa, xã hội,. Thực hiện công bằng xã hội về mặt kinh tế thể hiện ở cả khâu phân phối tư liệu sản xuất và khâu phân phối kết quả sản xuất, thành quả về đầu tư phát triển kinh tế". Như thế, tác giả của hai công trình nghiên cứu trên đây đều thống nhất cho rằng, công bằng không phải là cào bằng. Điều này cũng có nghĩa bình đẳng cũng không phải là luôn bằng nhau mà phải đảm bảo sự tương thích về cả quyền, nghĩa vụ cũng như yêu cầu quản lý nền kinh tế hiệu quả.
Khi xem xét ở khía cạnh địa vị pháp lý của các loại hình doanh nghiệp hiện nay, nghiên cứu của Tô Nguyễn Cẩm Anh lại cho rằng: "Quy định không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản chỉ áp dụng riêng đối với doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh vô hình chung là một sự phân biệt đối xử giữa các 18 loại hình doanh nghiệp trong việc giải quyết thủ tục phá sản, tạo nên sự bất bình đẳng về tương lai kinh tế của các chủ thể kinh doanh" [1, tr. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có quan điểm trái chiều hay đồng thuận nào được công bố chính thức về nhận định này. Các quan điểm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp Quyền BĐGCDN ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Ngay tại các cơ sở đào tạo, giảng dạy về Luật thương mại cũng đề cập rất khái quát về quyền BĐGCDN.
Trong Giáo trình Luật thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), các quyền của doanh nghiệp được nêu cụ thể. Các chương II, chương III và chương IV của giáo trình nghiên cứu vào các nhóm đối tượng như: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN), các công ty và DNNN. Khi đề cập đến quyền của DNTN, giáo trình viết: Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp 1999, chính về thế nó được hưởng những quyền chung giống mọi doanh nghiệp khác như: Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Tuy nhiên, mỗi một quyền chung ấy, khi xét ở từng góc độ của từng doanh nghiệp lại có những đóng góp đặc thù cho sự phát triển của từng loại hình doanh nghiệp cụ thể [94, tr.
Sau bình luận này, giáo trình chưa làm rõ được sự khác nhau này có cần thiết, có đảm bảo quyền BĐGCDN hay không. Khác với Giáo trình Luật thương mại (2006), khi nghiên cứu về quyền của DNTN, giáo trình Luật kinh tế (2003) cũng của Trường Đại học Luật Hà Nội viết: Doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế với tư cách là một chủ thể kinh doanh độc lập, nhà nước không chỉ thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp tư nhân mà còn thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập. Điều đó được thể hiện một cách rõ rệt trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân [83, tr. Theo đó, các quyền của doanh nghiệp này gồm: (i) Quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của doanh nghiệp; (ii) Quyền bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp khác; 19 (iii) Quyền của DNTN trong việc tổ chức và quản lý doanh nghiệp.
Giáo trình đã đi từ nội dung khái quát đến cụ thể. Giáo trình Luật kinh tế (2003) chỉ đề cập đến vấn đề các quyền cụ thể của doanh nghiệp sau khi vấn đề (i) và (ii) đã được giải quyết. Một trong những phân tích quan trọng được nêu ra là sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp luôn đồng hành với các quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh lẫn nhau. Các quan hệ này nảy sinh không chỉ giữa các doanh nghiệp trong một thành phần kinh tế mà cả giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp chỉ có thể phát triển một cách lành mạnh trong điều kiện các doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Quyền bình đẳng trước pháp luật giữa DNTN với các doanh nghiệp khác trước hết thể hiện ngay trong việc thành lập doanh nghiệp [83, tr. Giáo trình cũng chỉ ra rằng: "Các doanh nghiệp có quyền bình đẳng trước pháp luật còn có nghĩa là các doanh nghiệp đều phải có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế". Giáo trình này cũng đề cập sâu hơn để giải thích về mức thuế đóng góp giữa các doanh nghiệp ở mức độ khác nhau là sự hợp lý.
Điều này hoàn toàn phù hợp với các quan niệm về công bằng, bình đẳng. Trong luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Bùi Ngọc Cường (2002) về Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta không đề cập trực tiếp đến quyền BĐGCDN nhưng đã gợi mở về phương pháp tiếp cận nghiên cứu các quyền của doanh nghiệp nói chung, trong đó có quyền tự do kinh doanh, quyền BĐGCDN là các quyền được xây dựng trên nền tảng kinh tế, chính trị - xã hội nhất định. Những công trình liên quan đến xác định vai trò của pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng doanh nghiệp Không có công trình nào được biết đến đã từng nhận định trực tiếp về vai trò của pháp luật đối với việc bảo đảm quyền BĐGCDN. Tuy nhiên, ở khía cạnh nhất định, về mặt lý luận, vai trò của pháp luật nói chung đã được viết khá kỹ trong giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2003) của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Giáo trình khẳng định pháp luật là phương tiện để các chủ thể trong xã hội quyết định những hoạt động của tổ chức, cá nhân [82, tr. Đồng thời, với tư 20 cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội. Giáo trình viết: "Sự tác động và ảnh hưởng của pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật" [82, tr. Pháp luật được đặt ra nhằm thực hiện những mục đích đã được xác định.
Những mục đích đó luôn xuất phát từ những chức năng, nhiệm vụ của nhà nước và nhu cầu cần thiết phải có sự điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội trong thời kỳ quá độ, cũng như trong mỗi giai đoạn cụ thể.