CHƯƠNG 1: MOT SO VAN ĐÈ KHÁI QUÁT VE GIỚI HAN TRÁCH NHIEM CUA THUONG NHAN KINH DOANH DICH VU LOGISTICS THEO PHAP LUAT VIET NAM 1. Khái quát về dich vụ logistics và thương nhân kinh doanh dich vu logistics 1. Khái niệm và đặc điêm về dich vu logistics, các loại hình dich vu logistics.L Khái niệm dich vu logistics Từ xa xưa, trong lịch sử, ngay từ khi con người biết tích trữ lương thực, hàng hóa và có nhu cau vận chuyền, trao đổi chúng thì nền móng của logistics đã được đặt ra và dần dần phát triển theo thời gian cùng với lịch sử thế giới. Lần đầu tiên, thuật ngữ logistics được xuất hiện và sử dụng là trong môi trường quân đội.
Tại day, logistics được hiểu là công tác hậu cần, bao gồm lưu trữ, vận chuyền, cung cấp hàng hóa mà cụ thê là quân lương, quân trang, hàng hóa và vũ khí cho các đội quân lúc bay giờ. Nhờ có logistics dé duy trì sự thông suốt của hàng hóa trong các cuộc chiến tranh đảm bảo cho lực lượng tham chiến mà các quốc gia cũng nhận ra tầm quan trọng của dịch vụ này. Cùng với sự phát triên của nền kinh tế thế giới. khi lực lượng sản xuất và khối lượng hàng hóa ngày càng trở nên phong phú với sỐ lượng lớn thì nhu cầu về lưu trữ, vận chuyên cũng ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính vì vậy, các quốc gia bắt đầu tập trung phát triển logistics, không còn bị giới hạn tập trung trong phạm vi quân đội. logistics vươn ra mọi ngành nghề và trở thành một ngành dịch vụ riêng đầy tiềm năng phát triển và đặc biệt quan trọng trong giao thương. Khái niệm về logistics đã xuất hiện từ rất lâu nhưng tại Việt Nam, đây vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ. Chúng ta thường tiếp cận với khái niệm logistics bằng ý nghĩa như “hậu cần” hay “tiếp tế”, “tiếp vận”, tuy nhiên những từ ngữ này không thể bao quát hết được ý nghĩa cũng như những vai trò mà logistics đảm nhận.
Vì vậy, không thê tìm kiếm được thuật ngữ nào Việt hóa được toàn bộ nội dung của logistics nên trong những văn bản được ban hành như Luật Thương mại 2005, Nghị định 163/2017/NĐ-CP v. thuật ngữ logistics đã được ghi nhận và sử dụng theo phiên bản tiếng Anh như một từ mượn và được ghi nhận như một thuật ngữ riêng đành cho ngành dịch vụ này. Điều đó giúp chúng ta có được cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về khái niệm dịch vụ logistics. Trên thé giới, trải qua nhiều giai đoạn phat triển của logistics, đã có rất nhiều những nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này.
Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, logistics cũng được nêu ra dưới những khái niệm đa dang. Theo từ điển “Oxford Advanced Learners Dictionary of current English”, A.S Hornby, Fifth Edition, Oxford University Press — 1995 giải nghĩa: “Logistics là việc tổ chức cung ứng va dich vu đối với một hoạt động phức hop nào đó (Logistics — the organization of supplies and services for any complex operation). Có thé thay, đây là một su mô ta khái quát và định nghĩa một cách bao quát về khái niệm logistics. Tuy nhiên, việc sử dụng “một hoạt động phức hợp nào đó” dé mô tả về phạm vi hoạt động của dich vụ logistics đã vô tinh khiến thuật ngữ này trở nên khó hiểu.
khó tiếp cận hơn trong mắt người đọc. Theo đó, trong cuốn từ dién “The American Heritage”, Forth Edition, Houghton Mifflin Company — 2000 đã đưa ra mô tả chi tiết hơn: “Logistics là một bộ phận của hoạt động quân sự chuyên trách về tích lũy, phân phối. duy trì và thay thế nguyên vật liệu cũng như nguồn nhân lực. Sự quản lý các quy trình trong một hoạt động (Logistics - 1.
The branch of military operations that deals with the procurement, distribution, maintenance, and replacement of material and personnel. The management of the details of an operation).” Như vậy, thuật ngữ logistics ở đây đã chi rõ được những điềm chính mà logistics đảm nhận như “tích lũy, phân phối và duy trì”. Tuy nhiên lại dễ gây hiểu nhằm cho người đọc rằng đây là một hoạt động riêng đặc thù của quân đội. Chính vi vậy, để giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chat của logistics thì phải ké tới khái niệm logistics dưới góc nhìn của các nhà kinh doanh.
Theo UNESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương), định nghĩa về logistics được hiểu như sau: “Logistics là quá trình tối ưu hóa việc quản lý dong trung chuyên và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan. từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hang.” (UNESCAP Logistics Management) Theo CLM (Hội đồng quản trị logistics Mỹ): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tốt nhất dé tiền hành việc quản lý. kiêm soát có hiệu quả sự di chuyển về chỉ phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cung cấp thông tin tương ứng từ giai đoạn chuẩn bị đến khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng” (Council of Logistics Management) Như vậy có thé thay, theo quan điểm của các nhà kinh doanh thi Logistics về cơ bản bao gồm việc lên kế hoạch và thực hiện một cách tối ưu nhất về thời gian và chi phí lưu chuyên, dự trữ nguyên vật liệu, thành phẩm và các thông tin từ noi sản xuất đến tay người tiêu dùng. Có 3 yếu tố chính cấu thành dịch vụ logistics là kho bãi, vận chuyền và giao nhận hàng hóa, tất cả tạo thành một chuỗi cung ứng các dich vụ được gọi chung với thuật ngữ là logistics.
Tại Việt Nam. hoạt động logistics đóng vai trò rất lớn trong kinh doanh thương mại, tuy đã phát triển từ lâu nhưng khái niệm về logistics lần đầu tiên được nhắc đến là trong Luật Thương mại Việt Nam 2005. Điều 233 trong luật này quy định: “Dịch vu logistics là hoạt động thương mai, theo đó thương nhân tô chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng. vận chuyền, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bi, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng đẻ hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dich vụ 16-gi-stic. khái niệm về dịch vụ logistics theo Luật Thương mại Việt Nam bao gồm chuỗi dịch vụ tương tự với hoạt động vận chuyền và giao nhận hàng hóa. Dịch vụ logistics sẽ đảm nhận vai trò cầu nối giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ hàng hóa. Toàn bộ quy trình bao gồm nhận hàng, vận chuyên, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hang, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá sẽ nam trong chuỗi dịch vụ logistics giúp thuận tiện hon cho các nhà san xuất muốn đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng.
Điều này đòi hỏi những thương nhân kinh doanh dịch vu logistics phải chuyên nghiệp va sở hữu đội ngũ lao động có chuyên môn nghiệp vụ cao. Đặc điểm dịch vụ logistics Dich vu logistics là hoạt động thương mai, vi vay dich vu này cũng mang những đặc điểm chung của các hoạt động thương mại, đồng thời cũng có những đặc thù riêng do tính chất công việc trong dịch vụ logistics. Những đặc điểm của dịch vụ logistics có thê kê tới như: Thứ nhát, Vé chủ thê: Chủ thé tham gia vào dich vụ logistics bao gồm 2 bên là: Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đóng vai trò là nhà cung cấp, cung cấp dịch vụ cho khách hàng sử dụng.
Các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng được những yêu cầu mà pháp luật cũng như ngành nghề đặt ra. Khách hang sử dung dịch vụ logistics là những tô chức, cá nhân có nhu cầu cần giao nhận hàng hóa. Khách hàng có thê là thương nhân hoặc chủ sở hữu của hàng hóa. thậm chí khách hàng có thể là người làm dịch vụ logistics khác.
11 Miễn là có nhu cau sử dung dich vụ giao nhận hang hóa thì đều có thê trở thành khách hàng của thương nhân kinh doanh dich vụ logistics’. Thư 2, về nội dung: Do mang tính chất là một chuỗi dịch vụ nên nội dung của dịch vu logistics rất đa dạng. bao gồm nhiều công việc như: Nhận hang từ khách hàng. vận chuyền, lưu kho, lưu bai, làm thú tục hải quan, các thú tục giấy tờ khác, tư van khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá.
Thương nhân kinh doanh dich vụ logistics thực hiện công việc theo chuỗi. có sự sắp xếp hợp lý nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian. Trong trường hợp hàng hoá phải thực hiện xuất, nhập khẩu, thương nhân kinh doanh dich vu logistics có trách nhiệm chuẩn bị giấy tờ cần thiết, hồ sơ hàng hóa day du (van don van chuyển, giám định, chứng thu tin dung) và tiến hành làm thủ tục hai quan theo quy định của pháp luật. Trong quá trình cung cấp và sử dung dịch vụ logistics thì hợp đông là cơ sở dé thực hiện dich vụ giữa 2 bên thương nhân và khách hàng.
Hợp đồng dịch vụ logistics là sự thỏa thuận giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ liên quan đến lưu thông hàng hóa. Bên thương nhân có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán thù lao cho thương nhân. Thứ 3, về tính chất: Dịch vụ logistics là một dịch vụ kinh doanh sinh lời.
Thương nhân hưởng thù lao từ khách hàng và khách hàng có thê tiết kiệm chi phí cũng như công sức khi sử dụng dịch vụ logistics từ thương nhân. Dịch vụ logistics chính là sự phát triển và hoàn thiện từ các dịch vụ như lưu trữ. vận tải và giao nhận hàng hóa. Thay vì thực hiện một cách đơn lẻ và rời rạc từng hạng mục công việc trong quá * Logistics những van dé lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế quốc dan (201 1).
12 trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ logistics đã tông hợp lại và phát triển cao hơn, đa dạng hóa khái niệm lưu trữ, vận tải và giao nhận truyền thống. Thương nhân kính doanh dich vu logistics đóng vai trò chính trong lưu thông hàng hóa của khách hàng, chịu trách nhiệm với khách hàng và bị ràng buộc bởi trách nhiệm theo quy định của pháp luật và thỏa thuận trong hợp đồng.