Đặt vấn đề Các quyền dân sự và chính trị là một trong, hai nhóm quyền cơ bản của con người. Việc ghi nhận, đảm bảo và thực thi các quyền này là một trong những yếu tố quan trọng của việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền mà ở đó các quyền cơ bản về dân sự và chính trị được tuyên bố trong Hiến pháp và thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu khả năng giới hạn đối với các quyền dân sự và chính tị trong Công ước năm 1966 là cần thiết. Việc nêu rõ giới hạn đối với những quyền con người cơ bản này trọng Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định rõ phạm vi, mức độ giới hạn đối với các quyền và trên cơ sở đó đảm bảo cho sự minh bạch trong hoạt động lập pháp và thực thị pháp luật, hạn chế sự can thiệp tùy tiện, độc đoán từ phía các cơ quan công quyền, đây chính là Một; nhân tố quan trọng cho việc đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam.
Tìm hiểu vấn đề này cũng có ý nghĩa trong quá trình góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay. Sự giới hạn đối với các quyền dân sự và chính trị trong Công ước nam 1966 Về cơ bản, Công ước về các quyền dân sự và chính trị đòi hỏi các quốc gia thành viên tôn trọng và đảm bảo sự tuân thủ các nghĩa vụ mà công ước đề ra trên cơ sở bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử. Điều 2(1) của Công ước nêu rõ “Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phan xuất thân hoặc dia vi khac“. Mặc dù các quyền dân sự và chính trị sẽ nên được áp dụng một cách tuyệt đối, việc áp dụng một số các quyền này vẫn có thể có sự giới hạn.
Ngay tại điều 4 (1), khả năng về giới hạn áp dụng các quyền dân sự và chính trị đã được đề cập và sự hạn chế này có thể được hiểu là áp dụng cho hầu hết các quyền nêu ra trong ! Bài tham luận cho Tọa đàm về quyền dân sự và chính trị trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam tháng 02 năm 2012. Bài viết chỉ thể hiện ý kiến riêng của tác giả. ? Giảng viên, Khoa Luật Quốc tế, trường ĐH Luật TP. Đó là trường hợp khi mà ở quốc gia sở tại xuất hiện tình trạng khân cấp (public emergency).
Theo Điều 4(1) thi: 1. Trong thời gian có tình trạng khan cấp xảy ra de doa su sống còn của quốc gia và đã được chính thức công bố, các quốc gia thành viên có thể áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền nêu ra trong Công ước này, trong chừng mực do nhu cầu khân cấp của tình hình, với điều kiện những biện pháp này không trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia đó xuất phát từ luật pháp quốc tế và không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vẻ chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội. Như vậy trong trường hợp này một quốc gia có thể viện dẫn “ tình trạng khẩn cấp xảy ra đe doạ sự sống còn của quốc gia“ để làm cơ sở cho việc đơn phương hạn chế đối với các quyền được nêu ra trong Công ước. Trên cơ sở này, một số quốc gia đưa ra khái niệm “cuộc chiến chống khủng bố - War on Terror) để lý giải cho việc áp dụng các hạn chế này.
Việc đơn phương tuyên bố hạn chế áp dụng các quyền dân sự và chính trị này phải được coi là một trường hợp đặc biệt và có tính chất tạm thời. Điều 4 cũng quy đỉnh rõ hai yêu cầu cơ bản đó là: (1) tình trạng khẩn cấp phải được coi là có khả năng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của quốc gia và phải được quốc gia đó công bố một cách công khai; (2) quốc gia tuyên bố phải có nghĩa vụ trên cơ sở hiến pháp và các quy định pháp luật của nước mình để giám sát việc triển khai và thực thi quyền lực nhà nước. Mặc dù vậy, khả năng quốc gia hạn chế các quyền dân sự và chính trị nêu ra trong Công ước có những giới hạn nhằm tránh việc các quốc gia lợi dụng quy định này. Cụ thể: -_ Trong các cuộc xung đột vũ trang, bất kể là có tính quốc tế hay không, các quốc gia phải áp dụng các quy tắc của luật quốc tế về nhân đạo, nhằm đảm bảo sự tuân thủ đối với điều 4 và Điều 5(1)4 - _ Điều 4(2) nêu ra những quyền cá nhân mà sự hạn chế không thể được một quốc gia viện dẫn trong trường hợp khẩn cấp đề cập nêu ở điều 4(1), cụ thể: Quyền sống (right to life — Điều 6); Quyền không thể bị tra tắn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (Điều 7); Không bị bắt làm nô lệ hoặc nô dịch cưỡng bức (Điều 8 k 1,2); không bị bỏ * United Nations Human Righ its Committe, General Comments on Article 4 J/www.ch/ths/doc.nsf/898586b 1de7b4043c 1256450044 FI “United Nations Human Rights Committe, General Comments on Article 4, http://www.ch/tbs/doc.nsf/898586bI dc 7b4043c125 6a450044f33 1/71eba4be3974b4f7c I 256ae20051 7361/$FILE/G0144470.
tư một cách e_ Hạn chế đối với quyền không bị can thiệp vào đời sống riêng bắt hợp pháp và tùy tiện nhà ở, Liên quan đến quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, gia đình, thư tín, danh dự. Điều 17 (1) quy định: 1. Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống danh riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến dy va uy tin. Như vậy, theo quy định này thì quyền riêng tư của một cá nhân có thể bị can cách không tùy tiện thiệp nếu như sự can thiệp đó là hợp pháp và được thực thi một phải quy định bằng luật và có (non-arbitrary).
Đây là vấn đề mà các quốc gia cần cơ chế để giám sát thực hiện chúng. e Su hgp phap (lawfulness) Yêu cầu về sự hợp pháp phải được quy định một cách rõ ràng trong pháp luật của quốc gia. Theo Ủy ban về Nhân quyền của LHQ thì “luật pháp của quốc nêu gia phải quy định cụ thể những trường hợp mà sự can thiệp đối với các quyền đưa ra ra trong Công ước là được phép. Một quyết định như vậy chỉ có thể được trường hợp cụ the bởi cơ quan chức năng do luật định và trên cơ sở xem xét từng »5 (case by case basis)”.
Do đó, luật pháp của quốc gia liên quan đến việc ghi nhận và bảo vệ các quyển tự do cá nhân cần phải xác định cụ thể những trường hợp mà cơ quan công co sở của quyền có thể can thiệp vào những quyền đó, trong đó cần xác định 13 không rõ ràng hoặc chúng. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ một sự quy định đến sự tùy tiện trong áp dụng bởi các cơ quan công quyền thiếu cơ sở có thể dẫn trong trường hợp họ có thể lập luận cho việc áp dụng chúng theo quan điểm riêng của mình. Trong vụ Pinkney v Canada năm 1981, Ủy ban Nhân quyền quốc tế hành trong quyết định của mình đã nhấn mạnh rằng một đạo luật mà Canada ban nó đã không đưa ra cho phép việc kiểm tra thư của các tù nhân là không hợp lý vì có thể những cơ sở cụ thể mà việc kiểm soát này có thể được thực hiện và điều này dẫn đến nhiều trường hợp mà nhà chức trách có thể lạm dụng theo ý mình.ns#/ 1)/23378a87245954 5 4acecd? ent ' nttp://www.c 6 Pinkney v Canada, CCPR/C/14/D/27/1977 ngay 29/10/1981. Một trường hợp tương tự liên quan đến sự can thiệp của cơ quan công quyền có thể được xem là hợp pháp trường hợp sự can thiệp đối với quyền tự do cá nhân (right to liberty).
Điều 9(1) Công ước quy định: 1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy.
Cũng như đối với Điều 17(1), sư can thiệp của cơ quan chức năng cần phải được quy định một cách rõ ràng và cụ thể và có khả năng dự đoán trước (predictable) nhằm tránh sự tùy tiện của cơ quan chức năng, bao gồm thủ tục cho việc áp dụng chúng cùng với khả năng khiếu kiện và kháng nghị nếu có vi phạm. Về vấn đề này, theo quan điểm của Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ thì các luật quy định quyền tự do đối với đời sống riêng tư (Điều 17(1)) phải “phù hợp với các điều khoản, mục đích và đối tượng của Công ước”, ngụ ý sự phù hợp đối luật quốc tế về nhân quyền hơn là chỉ thuần túy là phù hợp với các quy định hiển định của quốc gia ban hành. e Sw tity tién (Arbitrary) Khái niệm “sự tùy tiện” không đồng nhất với khái niệm “sự hợp pháp”. Trong trường hợp một sự vi phạm đến quyền dân sự và chính trị có thể là “hợp pháp” nhưng lại được thực hiện một cách “tùy tiện”.
Theo Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ trong vụ 7oonen v Áustrâlia năm 1994 và bình luận liên quan đến quyền đối sự riêng tư (right to privacy) thì khái niệm “sự tùy tiện” bao hàm trong nó hai yếu tố đó là sự hợp lý (reasonableness) và tương xứng (proportionality). Trong một số trường hợp, sự vi phạm các quyển của cá nhân có thể có cơ sở từ các văn luật hợp pháp nhưng lại được thực hiện một cách tùy tiện bởi các cơ quan công quyền. Lấy ví dụ, có nhiều vụ kiện được đưa đến Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ liên quan đến sự cầm giữ (detention) bắt buộc đối với những người nhập cư ị ị trái phép vào Australia được coi là trái với điều 9(1) mặc dù việc cằm giữ này được thực hiện trên cơ sở các đạo luật được thông qua một cách hợp hiến và được Tòa án tối cao Liên bang Australia xác nhận.” Liên quan đến quyển tự do thân thể (Điều 9), Công ước quy định “Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường".