Luận văn Thạc sĩ Luật: So sánh quyền dân sự và chính trị trong hiến pháp

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu So sánh quyền dân sự và chính trị trong hiến pháp việt nam năm 1992 và công ước liên hợp quốc về, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Luật TP. HCM

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Kỷ yếu hội thảo

2012

100
7
15

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm cơ bản về quyền dân sự và chính trị

Quyền dân sự và chính trị là hai loại quyền con người cơ bản được công nhận trong pháp luật quốc tế. Quyền dân sự bao gồm các quyền như bình đẳng trước pháp luật, tự do tôn giáo, quyền sống và bảo vệ cá nhân. Trong khi đó, quyền chính trị liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước. Cả hai loại quyền này là nền tảng của một xã hội dân chủ hiện đại. Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa chúng giúp bảo vệ tốt hơn các quyền lợi của công dân. Luận văn ThS này tập trung vào so sánh chi tiết những khía cạnh này trong bối cảnh pháp luật đương đại.

1.1. Định nghĩa quyền dân sự trong hệ thống pháp luật

Quyền dân sự là những quyền cá nhân và xã hội được Luật Quốc tế bảo vệ quyền con người quy định. Chúng bao gồm quyền được sống, quyền không bị tra tấn, quyền tự do suy nghĩ và tôn giáo. Những quyền này nhằm bảo vệ nhân phẩm và tự do cá nhân khỏi sự xâm phạm của nhà nước. Quyền dân sự được coi là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển con người toàn diện trong xã hội.

1.2. Định nghĩa quyền chính trị và vai trò của nó

Quyền chính trị là các quyền liên quan đến sự tham gia của công dân vào quá trình quyết định chính sách công. Chúng bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tập hợp tự do. Những quyền này cho phép công dân ảnh hưởng đến quản trị nhà nước và các quyết định công cộng. Quyền chính trị là cơ chế thực hiện dân chủ trong các nền dân chủ hiện đại.

II. Sự khác biệt cốt lõi giữa hai loại quyền

Mặc dù cả quyền dân sự và chính trị đều là các quyền cơ bản, chúng có những khác biệt rõ ràng. Quyền dân sự tập trung vào bảo vệ cá nhân khỏi các sự xâm phạm, trong khi quyền chính trị liên quan đến quyền lực công cộng và tham gia quản lý. Phạm vi áp dụng cũng khác: quyền dân sự bảo vệ toàn bộ con người, còn quyền chính trị chủ yếu áp dụng cho công dân các nước. Tính chất luật pháp khác nhau: quyền dân sự là quyền tiêu cực (được bảo vệ khỏi sự can thiệp), còn quyền chính trị là quyền tích cực (yêu cầu sự tham gia).

2.1. Phạm vi và tính chất pháp lý của quyền dân sự

Quyền dân sự có phạm vi áp dụng rộng lớn, bao gồm mọi con người mà không phân biệt quốc tịch. Tính chất của chúng là bảo vệ, phòng chống các hành vi vi phạm từ nhà nước hoặc cá nhân. Hiến pháp và pháp luật quốc tế quy định chi tiết các quyền này. Sự vi phạm quyền dân sự có hậu quả pháp lý nghiêm trọng và có thể bị kiện trước tòa án.

2.2. Phạm vi và tính chất pháp lý của quyền chính trị

Quyền chính trị chỉ dành cho công dân của các nước cụ thể, không áp dụng cho người nước ngoài. Tính chất của chúng là tích cực, xây dựng, yêu cầu sự tham gia hoạt động chính trị. Luật bầu cử và luật về quyền con người chính trị là các công cụ pháp lý chính. Thực hiện quyền chính trị là nhiệm vụ và trách nhiệm của công dân đối với đất nước.

III. Mối quan hệ và sự bổ sung giữa hai loại quyền

Mặc dù quyền dân sự và chính trị là những khái niệm khác nhau, chúng có mối liên hệ chặt chẽ trong thực tiễn. Quyền dân sự là nền tảng cho việc thực hiện quyền chính trị - nếu không có tự do ý kiến và biểu đạt, công dân không thể tham gia hiệu quả vào các hoạt động chính trị. Ngược lại, quyền chính trị giúp bảo vệ quyền dân sự thông qua quá trình dân chủ. Cả hai loại quyền phải được tôn trọng đồng thời để xây dựng một xã hội công bằng và phát triển. Luận văn ThS nhấn mạnh rằng không thể tách rời hai loại quyền này khi xây dựng hệ thống pháp luật.

3.1. Cách quyền dân sự hỗ trợ thực hiện quyền chính trị

Tự do tôn giáo, ý kiến, và biểu đạt là những quyền dân sự cần thiết để thực hiện quyền chính trị hiệu quả. Nếu công dân bị giới hạn tự do ý kiến, họ không thể tham gia bầu cử một cách thực chất. Quyền được thông tin cũng là quyền dân sự tạo điều kiện cho công dân ra quyết định chính trị sáng suốt. Do đó, bảo vệ quyền dân sựđiều kiện tiên quyết cho dân chủ chính trị hoạt động tốt.

3.2. Cách quyền chính trị bảo vệ quyền dân sự

Quyền chính trị cho phép công dântiếng nói trong việc ban hành pháp luật bảo vệ quyền dân sự. Thông qua quyền bầu cử và ứng cử, công dân có thể chọn những đại diện cam kết bảo vệ quyền lợi của họ. Quá trình dân chủ cho phép phát hiện và khắc phục những vi phạm quyền dân sự. Sự tham gia chính trịcơ chế giám sát giúp nhà nước tôn trọngbảo vệ quyền dân sự của mọi công dân.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong pháp luật

Qua so sánh chi tiết quyền dân sự và chính trị, luận văn ThS kết luận rằng cả hai loại quyền đều thiết yếu cho sự phát triển bền vững của xã hội. Quyền dân sự bảo vệ cá nhân khỏi sự áp bức, quyền chính trị đảm bảo công dân có tiếng nói trong quản trị công cộng. Các quốc gia hiện đại phải công nhận và bảo vệ cả hai loại quyền này một cách bình đẳng. Ứng dụng thực tiễn yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện, có cơ chế kiểm soát quyền lựcbảo vệ những người bị thiểu số. Giáo dục nhân quyền cũng là công cụ quan trọng để nâng cao nhận thức công dân về tầm quan trọng của cả hai loại quyền này.

4.1. Khuyến nghị chính sách trong bối cảnh pháp luật hiện đại

Các chính phủ cần tăng cường bảo vệ pháp luật cho cả quyền dân sự và chính trị. Sửa đổi hiến pháp để rõ ràng, chi tiết về các quyền này là bước đầu tiên quan trọng. Xây dựng cơ chế khiếu nại độc lập và công khai giúp bảo vệ quyền lợi công dân. Đầu tư vào giáo dục về quyền con người trong các trường học và chương trình đào tạochiến lược dài hạn để tăng cường ý thức nhân quyền.

4.2. Hướng phát triển nghiên cứu và thực tiễn

Luận văn ThS này mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo, chẳng hạn như nghiên cứu so sánh quyền dân sự và chính trị giữa các quốc gia. Phân tích các vụ kiện liên quan đến vi phạm hai loại quyền có thể cung cấp hiểu biết sâu sắc. Hợp tác quốc tế trong bảo vệ nhân quyềnxu hướng phát triển tương lai. Các tổ chức phi chính phủ cần tiếp tục giám sátbáo cáo về tình hình quyền con người ở các quốc gia.

04/10/2025
So sánh quyền dân sự và chính trị trong hiến pháp việt nam năm 1992 và công ước liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị 1966 luận văn thạc sĩ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Các quyền dân sự và chính trị là một trong, hai nhóm quyền cơ bản của con người. Việc ghi nhận, đảm bảo và thực thi các quyền này là một trong những yếu tố quan trọng của việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền mà ở đó các quyền cơ bản về dân sự và chính trị được tuyên bố trong Hiến pháp và thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu khả năng giới hạn đối với các quyền dân sự và chính tị trong Công ước năm 1966 là cần thiết. Việc nêu rõ giới hạn đối với những quyền con người cơ bản này trọng Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định rõ phạm vi, mức độ giới hạn đối với các quyền và trên cơ sở đó đảm bảo cho sự minh bạch trong hoạt động lập pháp và thực thị pháp luật, hạn chế sự can thiệp tùy tiện, độc đoán từ phía các cơ quan công quyền, đây chính là Một; nhân tố quan trọng cho việc đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam.

Tìm hiểu vấn đề này cũng có ý nghĩa trong quá trình góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 hiện nay. Sự giới hạn đối với các quyền dân sự và chính trị trong Công ước nam 1966 Về cơ bản, Công ước về các quyền dân sự và chính trị đòi hỏi các quốc gia thành viên tôn trọng và đảm bảo sự tuân thủ các nghĩa vụ mà công ước đề ra trên cơ sở bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử. Điều 2(1) của Công ước nêu rõ “Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phan xuất thân hoặc dia vi khac“. Mặc dù các quyền dân sự và chính trị sẽ nên được áp dụng một cách tuyệt đối, việc áp dụng một số các quyền này vẫn có thể có sự giới hạn.

Ngay tại điều 4 (1), khả năng về giới hạn áp dụng các quyền dân sự và chính trị đã được đề cập và sự hạn chế này có thể được hiểu là áp dụng cho hầu hết các quyền nêu ra trong ! Bài tham luận cho Tọa đàm về quyền dân sự và chính trị trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam tháng 02 năm 2012. Bài viết chỉ thể hiện ý kiến riêng của tác giả. ? Giảng viên, Khoa Luật Quốc tế, trường ĐH Luật TP. Đó là trường hợp khi mà ở quốc gia sở tại xuất hiện tình trạng khân cấp (public emergency).

Theo Điều 4(1) thi: 1. Trong thời gian có tình trạng khan cấp xảy ra de doa su sống còn của quốc gia và đã được chính thức công bố, các quốc gia thành viên có thể áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền nêu ra trong Công ước này, trong chừng mực do nhu cầu khân cấp của tình hình, với điều kiện những biện pháp này không trái với những nghĩa vụ khác của quốc gia đó xuất phát từ luật pháp quốc tế và không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vẻ chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội. Như vậy trong trường hợp này một quốc gia có thể viện dẫn “ tình trạng khẩn cấp xảy ra đe doạ sự sống còn của quốc gia“ để làm cơ sở cho việc đơn phương hạn chế đối với các quyền được nêu ra trong Công ước. Trên cơ sở này, một số quốc gia đưa ra khái niệm “cuộc chiến chống khủng bố - War on Terror) để lý giải cho việc áp dụng các hạn chế này.

Việc đơn phương tuyên bố hạn chế áp dụng các quyền dân sự và chính trị này phải được coi là một trường hợp đặc biệt và có tính chất tạm thời. Điều 4 cũng quy đỉnh rõ hai yêu cầu cơ bản đó là: (1) tình trạng khẩn cấp phải được coi là có khả năng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của quốc gia và phải được quốc gia đó công bố một cách công khai; (2) quốc gia tuyên bố phải có nghĩa vụ trên cơ sở hiến pháp và các quy định pháp luật của nước mình để giám sát việc triển khai và thực thi quyền lực nhà nước. Mặc dù vậy, khả năng quốc gia hạn chế các quyền dân sự và chính trị nêu ra trong Công ước có những giới hạn nhằm tránh việc các quốc gia lợi dụng quy định này. Cụ thể: -_ Trong các cuộc xung đột vũ trang, bất kể là có tính quốc tế hay không, các quốc gia phải áp dụng các quy tắc của luật quốc tế về nhân đạo, nhằm đảm bảo sự tuân thủ đối với điều 4 và Điều 5(1)4 - _ Điều 4(2) nêu ra những quyền cá nhân mà sự hạn chế không thể được một quốc gia viện dẫn trong trường hợp khẩn cấp đề cập nêu ở điều 4(1), cụ thể: Quyền sống (right to life — Điều 6); Quyền không thể bị tra tắn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (Điều 7); Không bị bắt làm nô lệ hoặc nô dịch cưỡng bức (Điều 8 k 1,2); không bị bỏ * United Nations Human Righ its Committe, General Comments on Article 4 J/www.ch/ths/doc.nsf/898586b 1de7b4043c 1256450044 FI “United Nations Human Rights Committe, General Comments on Article 4, http://www.ch/tbs/doc.nsf/898586bI dc 7b4043c125 6a450044f33 1/71eba4be3974b4f7c I 256ae20051 7361/$FILE/G0144470.

tư một cách e_ Hạn chế đối với quyền không bị can thiệp vào đời sống riêng bắt hợp pháp và tùy tiện nhà ở, Liên quan đến quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, gia đình, thư tín, danh dự. Điều 17 (1) quy định: 1. Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống danh riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến dy va uy tin. Như vậy, theo quy định này thì quyền riêng tư của một cá nhân có thể bị can cách không tùy tiện thiệp nếu như sự can thiệp đó là hợp pháp và được thực thi một phải quy định bằng luật và có (non-arbitrary).

Đây là vấn đề mà các quốc gia cần cơ chế để giám sát thực hiện chúng. e Su hgp phap (lawfulness) Yêu cầu về sự hợp pháp phải được quy định một cách rõ ràng trong pháp luật của quốc gia. Theo Ủy ban về Nhân quyền của LHQ thì “luật pháp của quốc nêu gia phải quy định cụ thể những trường hợp mà sự can thiệp đối với các quyền đưa ra ra trong Công ước là được phép. Một quyết định như vậy chỉ có thể được trường hợp cụ the bởi cơ quan chức năng do luật định và trên cơ sở xem xét từng »5 (case by case basis)”.

Do đó, luật pháp của quốc gia liên quan đến việc ghi nhận và bảo vệ các quyển tự do cá nhân cần phải xác định cụ thể những trường hợp mà cơ quan công co sở của quyền có thể can thiệp vào những quyền đó, trong đó cần xác định 13 không rõ ràng hoặc chúng. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ một sự quy định đến sự tùy tiện trong áp dụng bởi các cơ quan công quyền thiếu cơ sở có thể dẫn trong trường hợp họ có thể lập luận cho việc áp dụng chúng theo quan điểm riêng của mình. Trong vụ Pinkney v Canada năm 1981, Ủy ban Nhân quyền quốc tế hành trong quyết định của mình đã nhấn mạnh rằng một đạo luật mà Canada ban nó đã không đưa ra cho phép việc kiểm tra thư của các tù nhân là không hợp lý vì có thể những cơ sở cụ thể mà việc kiểm soát này có thể được thực hiện và điều này dẫn đến nhiều trường hợp mà nhà chức trách có thể lạm dụng theo ý mình.ns#/ 1)/23378a87245954 5 4acecd? ent ' nttp://www.c 6 Pinkney v Canada, CCPR/C/14/D/27/1977 ngay 29/10/1981. Một trường hợp tương tự liên quan đến sự can thiệp của cơ quan công quyền có thể được xem là hợp pháp trường hợp sự can thiệp đối với quyền tự do cá nhân (right to liberty).

Điều 9(1) Công ước quy định: 1. Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy.

Cũng như đối với Điều 17(1), sư can thiệp của cơ quan chức năng cần phải được quy định một cách rõ ràng và cụ thể và có khả năng dự đoán trước (predictable) nhằm tránh sự tùy tiện của cơ quan chức năng, bao gồm thủ tục cho việc áp dụng chúng cùng với khả năng khiếu kiện và kháng nghị nếu có vi phạm. Về vấn đề này, theo quan điểm của Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ thì các luật quy định quyền tự do đối với đời sống riêng tư (Điều 17(1)) phải “phù hợp với các điều khoản, mục đích và đối tượng của Công ước”, ngụ ý sự phù hợp đối luật quốc tế về nhân quyền hơn là chỉ thuần túy là phù hợp với các quy định hiển định của quốc gia ban hành. e Sw tity tién (Arbitrary) Khái niệm “sự tùy tiện” không đồng nhất với khái niệm “sự hợp pháp”. Trong trường hợp một sự vi phạm đến quyền dân sự và chính trị có thể là “hợp pháp” nhưng lại được thực hiện một cách “tùy tiện”.

Theo Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ trong vụ 7oonen v Áustrâlia năm 1994 và bình luận liên quan đến quyền đối sự riêng tư (right to privacy) thì khái niệm “sự tùy tiện” bao hàm trong nó hai yếu tố đó là sự hợp lý (reasonableness) và tương xứng (proportionality). Trong một số trường hợp, sự vi phạm các quyển của cá nhân có thể có cơ sở từ các văn luật hợp pháp nhưng lại được thực hiện một cách tùy tiện bởi các cơ quan công quyền. Lấy ví dụ, có nhiều vụ kiện được đưa đến Ủy ban Nhân quyền quốc tế của LHQ liên quan đến sự cầm giữ (detention) bắt buộc đối với những người nhập cư ị ị trái phép vào Australia được coi là trái với điều 9(1) mặc dù việc cằm giữ này được thực hiện trên cơ sở các đạo luật được thông qua một cách hợp hiến và được Tòa án tối cao Liên bang Australia xác nhận.” Liên quan đến quyển tự do thân thể (Điều 9), Công ước quy định “Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ