Luận văn: Ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay 1965 về tống đạt tại Việt Nam

Luận văn phân tích sâu về ủy thác tư pháp tại Việt Nam trước và sau khi gia nhập Công ước La Hay 1965 về tống đạt giấy tờ, so sánh quy trình và đề xuất giải

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Công ước La Hay 1965 về ủy thác tư pháp

Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại là một trong những công cụ pháp lý quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực tương trợ tư pháp. Công ước này được xây dựng trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, nhằm tạo ra một cơ chế thống nhất và hiệu quả cho việc tống đạt giấy tờ xuyên biên giới. Việt Nam chính thức gia nhập Công ước La Hay 1965, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập pháp luật quốc tế. Trước khi gia nhập, việc ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ chế pháp lý thống nhất, phụ thuộc vào nguyên tắc có đi có lại và các hiệp định song phương. Công ước thiết lập hệ thống Cơ quan Trung ương chịu trách nhiệm tiếp nhận và xử lý yêu cầu tống đạt, giúp đơn giản hóa quy trình hành chính. Phạm vi áp dụng bao gồm giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, không bao gồm hình sự. Công ước quy định rõ điều kiện đối với giấy tờ tống đạt, các kênh thực hiện và biện pháp bảo vệ quyền lợi bị đơn khi xét xử vắng mặt.

1.1. Quy trình ủy thác tư pháp trước khi Việt Nam gia nhập Công ước

Trước khi gia nhập Công ước La Hay 1965, quy trình ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại và các hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ lập hồ sơ ủy thác, chuyển cho Bộ Tư pháp xem xét. Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Bộ Ngoại giao để gửi qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Thời gian xử lý thường kéo dài, hiệu quả thấp do phụ thuộc vào mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Nhiều trường hợp yêu cầu ủy thác bị từ chối hoặc không được phản hồi kịp thời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình giải quyết vụ án.

1.2. Lợi ích của việc gia nhập Công ước La Hay 1965 đối với Việt Nam

Việc gia nhập Công ước La Hay 1965 mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho Việt Nam. Thứ nhất, quy trình ủy thác tư pháp được chuẩn hóa thông qua hệ thống Cơ quan Trung ương, rút ngắn thời gian xử lý. Thứ hai, Công ước mở rộng phạm vi hợp tác với hơn 80 quốc gia thành viên, không cần ký kết hiệp định song phương riêng lẻ. Thứ ba, quyền lợi của bị đơn được bảo vệ tốt hơn qua các quy định về xét xử vắng mặt. Thứ tư, uy tín quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp được nâng cao, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài.

II. Phân tích thực tiễn áp dụng Công ước La Hay 1965 tại Việt Nam

Thực tiễn áp dụng Công ước La Hay 1965 tại Việt Nam cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp tăng đáng kể sau khi Việt Nam gia nhập Công ước, phản ánh nhu cầu ngày càng lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn gặp một số vướng mắc về mặt kỹ thuật và pháp lý. Nhiều hồ sơ ủy thác không đạt yêu cầu về hình thức do thiếu hướng dẫn cụ thể cho các Tòa án địa phương. Thời hạn xử lý tuy được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan. Một số quốc gia thành viên có cách hiểu khác nhau về phạm vi áp dụng của Công ước, dẫn đến tình trạng từ chối thực hiện yêu cầu. Việc phối hợp giữa các cơ quan Trung ương gồm Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao đôi khi chưa nhịp nhàng. Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC đã quy định chi tiết quy trình nhưng thực tế áp dụng vẫn phát sinh nhiều tình huống chưa được điều chỉnh đầy đủ.

2.1. Hạn chế trong quy trình thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế

Quy trình ủy thác tư pháp quốc tế tại Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Thứ nhất, thời hạn quy định tại Thông tư liên tịch 15/2011 chưa tính đến các tình huống phát sinh, dẫn đến chậm trễ. Bộ Tư pháp có năm ngày làm việc để chuyển hồ sơ, cơ quan đại diện cũng có năm ngày để triển khai. Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ thực hiện tại một số địa phương còn hạn chế, đặc biệt về ngôn ngữ và pháp luật nước ngoài. Thứ ba, việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại phức tạp, cần ý kiến của nhiều cơ quan, kéo dài thời gian xử lý lên đến hai mươi ngày trong trường hợp cần lấy ý kiến.

2.2. Vấn đề bảo vệ quyền lợi bị đơn khi xét xử vắng mặt

Công ước La Hay 1965 đặt ra các quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của bị đơn trong trường hợp xét xử vắng mặt. Điều kiện tiên quyết là giấy tờ phải được tống đạt hợp lệ theo quy định của Công ước. Nếu việc tống đạt không tuân thủ đúng quy trình, bị đơn có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ bản án. Tại Việt Nam, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp bị đơn ở nước ngoài không nhận được giấy triệu tập đúng hạn do vướng mắc trong khâu tống đạt. Điều này dẫn đến việc tòa án phải hoãn xét xử hoặc bản án bị kháng cáo, gây tốn kém thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay

Để nâng cao hiệu quả công tác ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay 1965, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn. Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp lý quốc gia, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn nữa để thay thế hoặc bổ sung Thông tư liên tịch 15/2011. Các quy định cần bao quát được các tình huống phức tạp phát sinh từ thực tiễn áp dụng Công ước. Thứ hai, đầu tư nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp tại các cơ quan Trung ương và địa phương. Đào tạo ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế và kỹ năng xử lý hồ sơ ủy thác là nhiệm vụ cấp thiết. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình xử lý, xây dựng hệ thống quản lý hồ sơ điện tử để theo dõi và giám sát tiến độ thực hiện. Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia thành viên khác để học hỏi mô hình hiệu quả. Cuối cùng, cần có cơ chế đánh giá định kỳ kết quả thực hiện Công ước để kịp thời điều chỉnh chính sách.

3.1. Hoàn thiện pháp luật quốc gia về tương trợ tư pháp dân sự

Việc hoàn thiện pháp luật quốc gia là giải pháp nền tảng để nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp. Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 để phù hợp với các cam kết quốc tế mới. Các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục cần được cụ thể hóa, loại bỏ khoảng trống pháp lý. Đặc biệt, cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong quy trình phối hợp, xác định thời hạn cụ thể cho từng bước xử lý. Việc ban hành mẫu đơn, mẫu hồ sơ chuẩn cũng giúp giảm tỷ lệ hồ sơ bị trả lại do không hợp lệ, tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho cả cơ quan Việt Nam và nước ngoài.

3.2. Ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa quy trình ủy thác tư pháp. Việt Nam nên xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối các cơ quan Trung ương, cho phép nộp và theo dõi hồ sơ trực tuyến. Hệ thống quản lý hồ sơ tập trung giúp giảm thiểu sai sót, tăng tính minh bạch. Song song với đó, chương trình đào tạo cần được thiết kế bài bản, tập trung vào kỹ năng xử lý hồ sơ quốc tế, hiểu biết pháp luật so sánh và khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Hợp tác với các tổ chức quốc tế như Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế sẽ giúp cập nhật kịp thời các diễn biến mới nhất liên quan đến Công ước.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam

Công ước La Hay 1965 đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp quốc tế tại Việt Nam. Qua quá trình áp dụng, Công ước đã giúp chuẩn hóa quy trình, mở rộng phạm vi hợp tác quốc tế và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên trong tố tụng dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn những tồn tại cần được giải quyết. Việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Công ước là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp cải tiến. Hướng ứng dụng thực tiễn tập trung vào ba nhóm giải pháp chính: hoàn thiện khung pháp lý quốc gia, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và tăng cường hợp tác quốc tế. Các đề xuất này không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn mang giá trị thực tiễn cao, góp phần cải thiện chất lượng công tác tương trợ tư pháp của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu Công ước La Hay 1965

Nghiên cứu Công ước La Hay 1965 mang ý nghĩa khoa học ở chỗ làm sáng tỏ cơ chế pháp lý quốc tế về ủy thác tư pháp, bổ sung kiến thức học thuật cho lĩnh vực tư pháp quốc tế tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phân tích đánh giá giúp các cơ quan có thẩm quyền đưa ra quyết định chính xác hơn trong quá trình áp dụng Công ước. Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo quý giá cho giảng viên, sinh viên luật và các luật sư hành nghề trong lĩnh vực dân sự quốc tế.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và chính sách liên quan

Trên cơ sở phân tích thực tiễn, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị cụ thể. Thứ nhất, sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 để tích hợp đầy đủ quy định về Công ước La Hay 1965. Thứ hai, ban hành Thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư 15/2011, cập nhật quy trình phù hợp với thực tế hiện nay. Thứ ba, thành lập đơn vị chuyên trách về ủy thác tư pháp quốc tế tại Bộ Tư pháp. Thứ tư, xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả định kỳ hàng năm. Thứ năm, tăng cường hợp tác với Cơ quan Trung ương các quốc gia thành viên khác để chia sẻ kinh nghiệm và giải quyết vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.

29/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

TÓM TẮT Trong luận văn “Ủy thác tư pháp theo quy định của Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại – Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam”, tác giả chủ yếu nghiên cứu các vấn đề sau: - Giới thiệu quy trình ủy thác tư pháp trước và sau khi Việt Nam gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, từ đó so sánh về cách thức thực hiện ủy thác tư pháp trước và sau khi Việt Nam gia nhập Công ước La Hay năm 1965. Những hạn chế của việc ủy thác tư pháp khi Việt Nam chưa gia nhập Công ước La Hay năm 1965 và những tác động của Công ước La Hay năm 1965 đối với Việt Nam. - Thực tiễn áp dụng Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại trong giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại tại đơn vị trong thời gian qua; những ý kiến của tác giả khác về các vấn đề có liên quan đến Công ước này; những kinh nghiệm khi thực hiện Công ước của các cơ quan khác; Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác ủy thác tư pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật có liên quan 2 I. Mục lục: LỜI CAM ĐOAN 1 LỜI CÁM ƠN 2 TÓM TẮT 3 I. Mục lục: 4 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7 II. Lời mở đầu 8 1. Lý do chọn đề tài 8 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 10 3. Mục tiêu nghiên cứu 11 4. Câu hỏi nghiên cứu 12 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12 6. Phương pháp nghiên cứu 13 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 13 III. Thiết kế nghiên cứu 14 IV. Kết cấu dự kiến của luận văn 14 CHƯƠNG 1 16 ỦY THÁC TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM CHƯA GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LA HAY 1965 16 1. Khái niệm ủy thác tư pháp 16 1. Quy định của pháp luật Việt Nam về ủy thác tư pháp 19 1. Yêu cầu ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự, thương mại 20 1. Phạm vi ủy thác tư pháp đối với các vụ việc dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài 20 1. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong ủy thác tư pháp 24 1. Quy trình ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam trước khi gia nhập Công ước về tống đạt 25 1. Đánh giá kết quả thực hiện ủy thác tư pháp 34 3 Kết luận chương 1 42 CHƯƠNG 2 44 CÔNG ƯỚC LA HAY 1965 VỀ TỐNG ĐẠT GIẤY TỜ TƯ PHÁP VÀ NGOÀI TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ VÀ THƯƠNG MẠI – THỰC TIỄN TỐNG ĐẠT SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 44 2. Công ước La Hay 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại 44 2. Phạm vi Công ước về tống đạt 46 2. Phạm vi áp dụng 46 2. Điều kiện đối với giấy tờ tống đạt 48 2. Các vấn đề về dân sự, thương mại 49 2. Nội dung chính của Công ước về tống đạt 50 2. Quy định về các kênh tống đạt 50 2. Các quy định để bảo vệ bị đơn khi xét xử vắng mặt liên quan đến việc tống đạt giấy triệu tập bị đơn 59 2. Những bảo lưu của Việt Nam khi gia nhập Công ước về tống đạt 62 2. Lợi ích của Việt Nam khi gia nhập Công ước về tống đạt 63 2. Quy trình ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài sau khi gia nhập Công ước về tống đạt 64 2. Thẩm quyền yêu cầu 65 2. Chi phí thực hiện 66 2. Phương thức thực hiện 67 2. Các kênh thực hiện UTTP ra nước ngoài 67 2. Kênh chính: 68 2. Kênh ngoại giao, lãnh sự trực tiếp 70 2. Kênh lãnh sự gián tiếp 72 2. Kênh ngoại giao gián tiếp 73 2. Tống đạt theo điều ước quốc tế khác giữa các quốc gia là thành viên của Công ước về tống đạt 74 4 2. Tống đạt theo phương thức khác quy định tại nội luật quốc gia 75 2. Thời gian chuyển hồ sơ và trả kết quả thực hiện 77 2. Thời gian chuyển hồ sơ 77 2. Trả kết quả thực hiện 78 2. Đánh giá thực tiễn áp dụng Công ước về tống đạt 78 2. So sánh giữa việc áp dụng nguyên tắc “có đi có lại” và áp dụng Công ước tống đạt trong việc ủy thác tư pháp 78 2. So sánh giữa việc áp dụng các Hiệp định tương trợ tư pháp và áp dụng Công ước về tống đạt trong việc ủy thác tư pháp 80 2. Thực tiễn áp dụng Công ước về tống đạt 82 2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật có liên quan 86 Kết luận chương 2 93 Kết luận 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 5 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Cụm từ đầy đủ ĐƯQT Điều ước quốc tế TTTP Tương trợ tư pháp UTTP Ủy thác tư pháp BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự TTLT Thông tư liên tịch 6 II. Lời mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Cùng với quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ và rộng khắp trên thế giới, các giao lưu xuyên quốc gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân các nước khác nhau diễn ra ngày càng phổ biến và các giao lưu dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài cũng phát triển một cách mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, các vụ việc dân sự, kinh tế, thương mại, hình sự, hành chính có yếu tố nước ngoài phát sinh ngày càng nhiều. Điều này đặt ra vấn đề khi cơ quan có thẩm quyền của quốc gia giải quyết các vụ việc này không thể chỉ căn cứ vào pháp luật quốc gia cũng như không thể tự mình thực hiện toàn bộ các hoạt động tố tụng mà cần có sự phối hợp, hỗ trợ của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia khác trong quá trình tiến hành một số hoạt động tố tụng riêng vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia mình. Chính vì thế nên hoạt động tương trợ tư pháp là một công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề nói trên. Tương trợ tư pháp trong bối cảnh hiện tại là một nhu cầu, đòi hỏi khách quan để giải quyết những vấn đề pháp lý xuyên quốc gia. Trong lĩnh vực dân sự, thương mại, trên cơ sở quy định pháp luật trong nước, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết và thực tiễn tương trợ tư pháp với các nước có thể thấy tương trợ tư pháp về dân sự, thương mại ở Việt Nam được hiểu là các cơ quan có thẩm quyền của các nước hỗ trợ nhau trong thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt trong lĩnh vực dân sự. Cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốc tế và pháp luật của các nước có liên quan về tương trợ tư pháp. Nếu không có điều ước quốc tế thì việc tương trợ tư pháp thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu, chủ yếu trên nguyên tắc có đi có lại. Mặc dù phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự, thương mại theo Luật tương trợ tư pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tương đối rộng có thể khái quát thành ba hoạt động chủ yếu là thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế; công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án quyết định của Tòa án nước ngoài; công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên, hoạt động tương trợ tư pháp 7 về dân sự, thương mại giữa Việt Nam và nước ngoài trên thực tế chủ yếu tập trung vào hoạt động ủy thác tư pháp quốc tế do đó trong phạm vi đề tài này tác giả cũng chỉ đề cập đến nội dung này. Theo thống kê tại Báo cáo công tác tương trợ tư pháp của Chính phủ trình Quốc hội hằng năm thì từ năm 2013 đến năm 2017, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã gửi đi 15.485 yêu cầu về ủy thác tư pháp và tiếp nhận 3.921 yêu cầu ủy thác tư pháp của nước ngoài vào Việt Nam. Với một khối lượng lớn các yêu cầu hằng năm, Việt Nam gặp không ích khó khăn, thách thức đặc biệt là khi Việt Nam chưa gia nhập một điều ước quốc tế nào tương trợ trong lĩnh vực này mà chỉ dừng lại ở những Hiệp định/Thỏa thuận song phương, trong khi những quốc gia mà phần lớn Việt Nam gửi yêu cầu về ủy thác tư pháp là Hoa Kỳ, Canada, Úc,… lại chưa có ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp nào với chúng ta về vấn đề này. Đối với các nước chưa ký với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp thì việc ủy thác tư pháp thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại. Nhưng việc thực hiện nguyên tắc có đi có lại gây ra không ít hạn chế như là tốn kém về mặt kinh tế và thời gian do thủ tục vòng vèo, nhiều công đoạn; việc thực hiện chỉ trông chờ vào sự may rủi, thiện chí của cơ quan có thẩm quyền của nước đó và không có cơ chế đảm bảo của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cam kết thực hiện,… Đây là những bất lợi không nhỏ đối với hoạt động ủy thác tư pháp. Do đó, việc gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại (gọi tắt là Công ước về tống đạt) với 71 thành viên trong đó có hầu hết các quốc gia mà Việt Nam có nhiều yêu cầu tống đạt như Hoa Kỳ, Canada, Úc… là một bước tiến trong công tác ủy thác tư pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại có giải quyết được các hạn chế trong vấn đề ủy thác tư pháp mà trước đây chúng ta gặp phải hay không? Quy trình thực hiện tống đạt giấy tờ ra nước ngoài theo công ước diễn ra như thế nào? Công ước có phải là công cụ pháp lý quốc tế hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp ở Việt Nam hay không? Những tác động của nó đối với Việt Nam khi gia nhập như thế nào?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ