Luận văn: Ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay 1965 về tống đạt tại Việt Nam

Luận văn phân tích sâu về ủy thác tư pháp tại Việt Nam trước và sau khi gia nhập Công ước La Hay 1965 về tống đạt giấy tờ, so sánh quy trình và đề xuất giải

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Công ước La Hay 1965 về ủy thác tư pháp

Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại là một trong những công cụ pháp lý quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực tương trợ tư pháp. Công ước này được xây dựng trong khuôn khổ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế, nhằm tạo ra một cơ chế thống nhất và hiệu quả cho việc tống đạt giấy tờ xuyên biên giới. Việt Nam chính thức gia nhập Công ước La Hay 1965, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập pháp luật quốc tế. Trước khi gia nhập, việc ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ chế pháp lý thống nhất, phụ thuộc vào nguyên tắc có đi có lại và các hiệp định song phương. Công ước thiết lập hệ thống Cơ quan Trung ương chịu trách nhiệm tiếp nhận và xử lý yêu cầu tống đạt, giúp đơn giản hóa quy trình hành chính. Phạm vi áp dụng bao gồm giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, không bao gồm hình sự. Công ước quy định rõ điều kiện đối với giấy tờ tống đạt, các kênh thực hiện và biện pháp bảo vệ quyền lợi bị đơn khi xét xử vắng mặt.

1.1. Quy trình ủy thác tư pháp trước khi Việt Nam gia nhập Công ước

Trước khi gia nhập Công ước La Hay 1965, quy trình ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại và các hiệp định tương trợ tư pháp song phương. Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ lập hồ sơ ủy thác, chuyển cho Bộ Tư pháp xem xét. Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Bộ Ngoại giao để gửi qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Thời gian xử lý thường kéo dài, hiệu quả thấp do phụ thuộc vào mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia. Nhiều trường hợp yêu cầu ủy thác bị từ chối hoặc không được phản hồi kịp thời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến trình giải quyết vụ án.

1.2. Lợi ích của việc gia nhập Công ước La Hay 1965 đối với Việt Nam

Việc gia nhập Công ước La Hay 1965 mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho Việt Nam. Thứ nhất, quy trình ủy thác tư pháp được chuẩn hóa thông qua hệ thống Cơ quan Trung ương, rút ngắn thời gian xử lý. Thứ hai, Công ước mở rộng phạm vi hợp tác với hơn 80 quốc gia thành viên, không cần ký kết hiệp định song phương riêng lẻ. Thứ ba, quyền lợi của bị đơn được bảo vệ tốt hơn qua các quy định về xét xử vắng mặt. Thứ tư, uy tín quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp được nâng cao, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài.

II. Phân tích thực tiễn áp dụng Công ước La Hay 1965 tại Việt Nam

Thực tiễn áp dụng Công ước La Hay 1965 tại Việt Nam cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp tăng đáng kể sau khi Việt Nam gia nhập Công ước, phản ánh nhu cầu ngày càng lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn gặp một số vướng mắc về mặt kỹ thuật và pháp lý. Nhiều hồ sơ ủy thác không đạt yêu cầu về hình thức do thiếu hướng dẫn cụ thể cho các Tòa án địa phương. Thời hạn xử lý tuy được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan. Một số quốc gia thành viên có cách hiểu khác nhau về phạm vi áp dụng của Công ước, dẫn đến tình trạng từ chối thực hiện yêu cầu. Việc phối hợp giữa các cơ quan Trung ương gồm Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao đôi khi chưa nhịp nhàng. Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC đã quy định chi tiết quy trình nhưng thực tế áp dụng vẫn phát sinh nhiều tình huống chưa được điều chỉnh đầy đủ.

2.1. Hạn chế trong quy trình thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế

Quy trình ủy thác tư pháp quốc tế tại Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Thứ nhất, thời hạn quy định tại Thông tư liên tịch 15/2011 chưa tính đến các tình huống phát sinh, dẫn đến chậm trễ. Bộ Tư pháp có năm ngày làm việc để chuyển hồ sơ, cơ quan đại diện cũng có năm ngày để triển khai. Thứ hai, trình độ chuyên môn của cán bộ thực hiện tại một số địa phương còn hạn chế, đặc biệt về ngôn ngữ và pháp luật nước ngoài. Thứ ba, việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại phức tạp, cần ý kiến của nhiều cơ quan, kéo dài thời gian xử lý lên đến hai mươi ngày trong trường hợp cần lấy ý kiến.

2.2. Vấn đề bảo vệ quyền lợi bị đơn khi xét xử vắng mặt

Công ước La Hay 1965 đặt ra các quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của bị đơn trong trường hợp xét xử vắng mặt. Điều kiện tiên quyết là giấy tờ phải được tống đạt hợp lệ theo quy định của Công ước. Nếu việc tống đạt không tuân thủ đúng quy trình, bị đơn có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ bản án. Tại Việt Nam, thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp bị đơn ở nước ngoài không nhận được giấy triệu tập đúng hạn do vướng mắc trong khâu tống đạt. Điều này dẫn đến việc tòa án phải hoãn xét xử hoặc bản án bị kháng cáo, gây tốn kém thời gian và chi phí cho các bên liên quan.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay

Để nâng cao hiệu quả công tác ủy thác tư pháp theo Công ước La Hay 1965, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn. Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp lý quốc gia, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn nữa để thay thế hoặc bổ sung Thông tư liên tịch 15/2011. Các quy định cần bao quát được các tình huống phức tạp phát sinh từ thực tiễn áp dụng Công ước. Thứ hai, đầu tư nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp tại các cơ quan Trung ương và địa phương. Đào tạo ngoại ngữ, kiến thức pháp luật quốc tế và kỹ năng xử lý hồ sơ ủy thác là nhiệm vụ cấp thiết. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình xử lý, xây dựng hệ thống quản lý hồ sơ điện tử để theo dõi và giám sát tiến độ thực hiện. Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia thành viên khác để học hỏi mô hình hiệu quả. Cuối cùng, cần có cơ chế đánh giá định kỳ kết quả thực hiện Công ước để kịp thời điều chỉnh chính sách.

3.1. Hoàn thiện pháp luật quốc gia về tương trợ tư pháp dân sự

Việc hoàn thiện pháp luật quốc gia là giải pháp nền tảng để nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp. Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 để phù hợp với các cam kết quốc tế mới. Các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục cần được cụ thể hóa, loại bỏ khoảng trống pháp lý. Đặc biệt, cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong quy trình phối hợp, xác định thời hạn cụ thể cho từng bước xử lý. Việc ban hành mẫu đơn, mẫu hồ sơ chuẩn cũng giúp giảm tỷ lệ hồ sơ bị trả lại do không hợp lệ, tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho cả cơ quan Việt Nam và nước ngoài.

3.2. Ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa quy trình ủy thác tư pháp. Việt Nam nên xây dựng cổng thông tin điện tử kết nối các cơ quan Trung ương, cho phép nộp và theo dõi hồ sơ trực tuyến. Hệ thống quản lý hồ sơ tập trung giúp giảm thiểu sai sót, tăng tính minh bạch. Song song với đó, chương trình đào tạo cần được thiết kế bài bản, tập trung vào kỹ năng xử lý hồ sơ quốc tế, hiểu biết pháp luật so sánh và khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Hợp tác với các tổ chức quốc tế như Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế sẽ giúp cập nhật kịp thời các diễn biến mới nhất liên quan đến Công ước.

IV. Kết luận và hướng ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam

Công ước La Hay 1965 đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp quốc tế tại Việt Nam. Qua quá trình áp dụng, Công ước đã giúp chuẩn hóa quy trình, mở rộng phạm vi hợp tác quốc tế và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên trong tố tụng dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn những tồn tại cần được giải quyết. Việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Công ước là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp cải tiến. Hướng ứng dụng thực tiễn tập trung vào ba nhóm giải pháp chính: hoàn thiện khung pháp lý quốc gia, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và tăng cường hợp tác quốc tế. Các đề xuất này không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn mang giá trị thực tiễn cao, góp phần cải thiện chất lượng công tác tương trợ tư pháp của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu Công ước La Hay 1965

Nghiên cứu Công ước La Hay 1965 mang ý nghĩa khoa học ở chỗ làm sáng tỏ cơ chế pháp lý quốc tế về ủy thác tư pháp, bổ sung kiến thức học thuật cho lĩnh vực tư pháp quốc tế tại Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phân tích đánh giá giúp các cơ quan có thẩm quyền đưa ra quyết định chính xác hơn trong quá trình áp dụng Công ước. Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo quý giá cho giảng viên, sinh viên luật và các luật sư hành nghề trong lĩnh vực dân sự quốc tế.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và chính sách liên quan

Trên cơ sở phân tích thực tiễn, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị cụ thể. Thứ nhất, sửa đổi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 để tích hợp đầy đủ quy định về Công ước La Hay 1965. Thứ hai, ban hành Thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư 15/2011, cập nhật quy trình phù hợp với thực tế hiện nay. Thứ ba, thành lập đơn vị chuyên trách về ủy thác tư pháp quốc tế tại Bộ Tư pháp. Thứ tư, xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả định kỳ hàng năm. Thứ năm, tăng cường hợp tác với Cơ quan Trung ương các quốc gia thành viên khác để chia sẻ kinh nghiệm và giải quyết vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

29/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 ỦY THÁC TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM CHƯA GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LA HAY 1965 1. Khái niệm ủy thác tư pháp Thuật ngữ “ủy thác là giao phó một cách chính thức cho người đáng tin cậy”4. Xét trên góc độ lý luận, dựa trên nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thì Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia bất kì không được thực hiện hoặc không thể thực hiện bất kỳ hoạt động tố tụng nào trên lãnh thổ của quốc gia khác. Dưới góc độ thực tiễn, trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sở tại cần phải thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng nhất định tại nước ngoài (như thu thập chứng cứ, lời khai của đương sự, tống đạt giấy tờ,.) để đảm bảo về mặt tố tụng đạt hiệu quả và thành công.

Do đó, cần phải có một chế định pháp lý đặc thù cho phép thực hiện các hoạt động trên lãnh thổ quốc gia khác mà vẫn đảm bảo mục tiêu tôn trọng và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia. Đó chính là chế định ủy thác tư pháp quốc tế. Hiểu một cách khái quát, ủy thác tư pháp là việc mà Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia yêu cầu Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia khác thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết trên lãnh thổ của quốc gia đó nhằm phục vụ cho quá trình giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài5. Theo pháp luật Việt Nam, “ủy thác tư pháp” được định nghĩa tại khoản 1 Điều 6 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 như sau: “Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

4 Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB. Văn hóa thông tin 5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình tư pháp quốc tế (2019), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 300, 301 15 Như vậy có thể hiểu, Ủy thác tư pháp là hình thức tương trợ tư pháp của các quốc gia có chủ quyền, do quốc gia được uỷ thác thực hiện bao gồm các hoạt động tố tụng riêng biệt đã được pháp luật của nước đó quy định: tống đạt giấy tờ; khám xét, thu giữ và chuyển giao các vật chứng; tiến hành giám định lấy lời khai của các bị cáo, người làm chứng, người giám định, các bên đương sự và những người khác; xem xét vật chứng tại phiên toà, thi hành các quyết định, dẫn độ người phạm tội, điều tra hình sự, chuyển giao tài liệu và cung cấp các tin khác6. Thực tế hoạt động ủy thác diễn ra theo hai chiều, từ Việt Nam ra nước ngoài, và từ nước ngoài vào Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam trước đây không đưa ra giải thích cụ thể cách hiểu của “ủy thác tư pháp của Việt Nam” và “ủy thác tư pháp của nước ngoài”. Tuy nhiên, kể từ thời điểm Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG- TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC) có hiệu lực thi hành thì đã đưa ra giải thích cách hiểu của hai khái niệm trên. Theo đó, “ủy thác tư pháp của Việt Nam7” là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự; “ủy thác tư pháp của nước ngoài8” là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự. Để thực hiện việc ủy thác tư pháp, pháp luật các nước thường quy định các nguyên tắc thực hiện trong pháp luật của nước mình, những nguyên tắc đó thường là: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và đặc biệt là nguyên tắc có đi có lại.

Pháp luật Việt Nam quy định “Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng 6 Điều 10 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 7 Khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự 8 Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự 16 độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”9. Việc thực hiện ủy thác tư pháp giữa Tòa án Việt Nam với Tòa án nước ngoài được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia nước ngoài có liên quan hoặc theo nguyên tắc có đi có lại. Điều kiện thực hiện các ủy thác tư pháp thường quy định trong pháp luật quốc gia, trong các điều ước quốc tế liên quan. Trong trường hợp có điều ước quốc tế thì ủy thác tư pháp được thực hiện dựa trên điều ước quốc tế, khi không có điều ước quốc tế thì việc thực hiện ủy thác tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được ủy thác trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.

Điều kiện để thực hiện ủy thác của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không được ảnh hưởng đến chủ quyền, an ninh quốc gia của nước được yêu cầu ủy thác; việc ủy thác không được trái với trật tự công cộng, luật pháp của nước sở tại và việc thực hiện ủy thác phải thuộc thẩm quyền của Tòa án được yêu cầu. Về mặt nguyên tắc, việc thực hiện ủy thác tư pháp không phải là nghĩa vụ mang tính bắt buộc đối với các quốc gia được ủy thác 10 (ngoại trừ quy định trong điều ước quốc tế có liên quan). Tuy nhiên, nếu từ chối việc ủy thác mà không có lý do chính đáng thì bị coi như thiếu thiện chí trong quan hệ quốc tế, hành vi này có thể bị áp dụng biện pháp trả đũa hoặc nguyên tắc có đi có lại. Do đó, trên thực tế các quốc gia được yêu cầu đều thực hiện việc ủy thác tư pháp ngoại trừ những trường hợp không đáp ứng được điều kiện kể trên.

Trình tự thực hiện ủy thác tư pháp được các quốc gia quy định trong các điều ước quốc tế liên quan hoặc trong pháp luật tố tụng của mỗi nước. Khi thực hiện ủy thác tư pháp, Tòa án hay cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu ủy thác chỉ áp dụng pháp luật của nước mình (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà các bên ký kết có quy định khác). 9 Khoản 1 Điều 4 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 10 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình tư pháp quốc tế (2019), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. Quy định của pháp luật Việt Nam về ủy thác tư pháp Như đã nói ở trên, việc thực hiện ủy thác tư pháp giữa Tòa án Việt Nam với Tòa án nước ngoài được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia nước ngoài có liên quan hoặc theo nguyên tắc có đi có lại và trình tự thực hiện được các quốc gia quy định trong các điều ước quốc tế liên quan hoặc trong pháp luật tố tụng của mỗi nước.

Trước khi gia nhập Công ước La Hay năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại thì việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động (gọi tắt là các vụ việc dân sự, thương mại) thuộc phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ thể tại: Các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập (Cụ thể là các Hiệp định tương trợ tư pháp), Bộ luật tố tụng dân sự năm 200411; Luật tương trợ tư pháp năm 2007; Nghị định số 92/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật tương trợ tư pháp; Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG- TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật tương trợ tư pháp12. Ngoài ra, khi không có điều ước quốc tế giữa các bên Việt Nam thường áp dụng nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế13. Căn cứ để xem xét áp dụng nguyên tắc có đi có lại bao gồm: Sự cần thiết, nhu cầu của Việt Nam đối với việc tương trợ tư pháp trong từng trường hợp cụ thể hoặc trong quan hệ chung với nước có liên quan; Không trái với pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên và phù hợp với pháp luật, tập quán quốc tế; Sự phù hợp về yêu cầu đối ngoại, tác động chính trị, kinh tế, xã 11 Hiện nay là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 12 Hiện nay là Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự 13 Khoản 2 Điều 4 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 18 hội và những tác động khác, nếu có; Sự ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, cá nhân, pháp nhân Việt Nam có liên quan14.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ