CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI 1. Khái quát về nghĩa vụ tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 1. Khái niệm, các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại 1.
Khái niệm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Trong BLDS năm 2015 có một số điều luật nhắc đến cụm từ “nghĩa vụ tài sản”1 nhưng đến hiện tại vẫn chưa có một quy định cụ thể đề cập đến khái niệm, đặc điểm của cụm từ này. Do đó, có thể dựa vào khái niệm nghĩa vụ để giải thích cho khái niệm nghĩa vụ tài sản. Theo đó, nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)2. Có thể thấy, nghĩa vụ người chết để lại là những nghĩa vụ nêu trên do người chết đáng lẽ phải thực hiện nhưng không thể thực hiện được nữa nên chuyển giao cho người thừa kế.
Như vậy, nhìn chung nghĩa vụ tài sản là những nghĩa vụ liên quan đến tài sản, gắn liền với tài sản, có thể chuyển giao được và không chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết đi. Các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Như trình bày ở trên, nghĩa vụ tài sản của người chết là những nghĩa vụ phát sinh từ những hành vi trước khi chết của người đó để phục vụ cho nhu cầu của họ, những nghĩa vụ này do chính bản thân người chết phải thực hiện nhưng người này 1 Xem Điều 614, Điều 615, Điều 620, Điều 632 BLDS năm 2015. 2 Xem Điều 274 BLDS năm 2015. 9 chưa thực hiện hoặc đang thực hiện thì chết.
Theo đó, nghĩa vụ tài sản phải là một loại nghĩa vụ gắn liền với tài sản và có thể chuyển giao, đó là một loại nghĩa vụ chuyển giao một loại tài sản nào đó cho chủ thể có quyền. Căn cứ vào Điều 658 BLDS năm 2015, các loại nghĩa vụ do người chết để lại bao gồm: Thứ nhất, nghĩa vụ với nhà nước. Cụ thể: Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước. Theo đó, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế3.
Do đó, khoản này cũng được xem là nghĩa vụ buộc phải thanh toán nếu người chết chưa thực hiện hoàn tất. Ở quy định này của BLDS năm 2015 đã có sự thay đổi so với BLDS năm 2005 ở chỗ: sửa đổi nội dung “các khoản nợ khác đối với Nhà nước” thành “các khoản phải nộp khác vào ngân sách Nhà nước”. Xét thấy, quy định của BLDS năm 2015 hợp lý hơn bởi “trong Nhà nước pháp quyền, chỉ có khoản tiền trả cho ngân sách Nhà nước, phục vụ lợi ích chung của xã hội thì mới được ưu tiên, còn những khoản nợ khác thì phải xem Nhà nước cũng là một chủ thể bình đẳng như cá nhân, pháp nhân mới đúng với bản chất của quan hệ dân sự”.4 Thứ hai, nghĩa vụ đối với cá nhân và tổ chức khác. Đây thường là nghĩa vụ phát sinh nhiều nhất, phổ biến nhất bởi chúng là những nghĩa vụ xuất phát từ những giao dịch dân sự khi người để lại di sản còn sống mà chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ.
Nhóm nghĩa vụ này bao gồm: - Tiền cấp dưỡng còn thiếu: Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em 3 Theo https://hocluat.vn/wiki/thue/, truy cập ngày 27/12/2020. 4 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 10 với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định.
Theo đó, tính đến thời điểm người để lại di sản chết, nghĩa vụ cấp dưỡng chưa được người đó thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ thì phải chuyển giao cho người thừa kế tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, vì cấp dưỡng là nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân, do đó nghĩa vụ này cũng chấm dứt khi người có nghĩa vụ chết đi. Như vậy, việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phải thực hiện nốt đến thời điểm người để lại di sản chết đi và đối với khoản cấp dưỡng còn thiếu. - Tiền công lao động: Đây là nghĩa vụ của người chết đi trong trường hợp họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người lao động (tiền lương, tiền công lao động) mà họ đã ký kết hợp đồng lao động khi còn sống.
- Tiền bồi thường thiệt hại: Số tiền này cũng là số tiền khi còn sống người để lại thừa kế chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với người có quyền mà gây thiệt hại cho người đó. Như vậy, những người hưởng thừa kế phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc bồi thường cho những người bị thiệt hại. - Tiền phạt: là khoản tiền được trả do hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của một bên (có thỏa thuận chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng)5. Nghĩa vụ này phát sinh khi người để lại di sản bị vi phạm theo điều khoản của hợp đồng nhưng chưa kịp thực hiện thì qua đời.
Do đó, nghĩa vụ này sẽ được chuyển giao cho người thừa kế thực hiện. - Các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác: Đây là những nghĩa vụ tài sản được người để lại di sản xác lập thông qua những giao dịch dân sự khi còn sống. Do đó, đối với những trường hợp người để lại di sản chưa thực hiện 5 Xem thêm Điều 418 BLDS năm 2015. 11 hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ của mình với những người có quyền thì người hưởng thừa kế buộc phải tiếp tục thực hiện.
Bên cạnh những nghĩa vụ nêu trên, Điều 658 BLDS năm 2015 cũng quy định thêm một số trường hợp buộc phải sử dụng di sản của người chết để thanh toán và không được coi là nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Cụ thể: Thứ nhất, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ: người sống nương nhờ không phải là người thừa kế, họ không được thừa kế di sản của người chết. Họ là người không thể tự nuôi sống bản thân mà phụ thuộc vào trợ cấp từ người khác. Do đó, để tránh gây ra những khó khăn đột xuất cho người sống nương nhờ, cần trích một phần khối di sản của người chết để giúp đỡ họ6.
Tuy nhiên, việc giúp đỡ người khác xuất phát từ ý chí, từ sự tương trợ và từ lòng hảo tâm, chứ không xuất phát từ nghĩa vụ của bất kỳ ai. Như vậy, nếu quy định trợ cấp cho người sống nương nhờ là một nghĩa vụ tài sản thì e rằng chưa hợp lý. Việc trợ cấp hay không và trợ cấp bao nhiêu sẽ hợp lý hơn nếu được quyết định bởi những người thừa kế. Thứ hai, chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng: Theo phong tục tập quán của người Việt Nam thì sau khi một người chết đi, việc mai táng là cần thiết phải chi và phải hợp lý, phù hợp với tập quán tại nơi người để lại tài sản sinh sống.
Nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế cũng như đảm bảo di sản được bảo toàn tối ưu, việc mai táng phải thỏa mãn đầy đủ hai điều kiện: hợp lý và phù hợp với tập quán tại nơi người để lại di sản sinh sống. Thứ ba, chi phí cho việc bảo quản di sản: Nhiều trường hợp sau khi một người chết đi, việc phân chia tài sản không được thực hiện ngay lập tức mà phải ưu tiên mai táng để thể hiện sự tôn trọng với người chết. Do đó, nhu cầu bảo quản, giữ gìn tài sản trong trường hợp này là cần thiết và cũng vì vậy mà phải chi ra một khoản tiền để thực hiện. Mặc dù những chi phí nêu trên không phải là nghĩa vụ do trực tiếp người chết để lại, tuy nhiên đây là những chi phí liên quan trực tiếp đến 6 Xem thêm khoản 3 mục A phần III của Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981.
12 việc bảo đảm giá trị cho khối di sản cũng như việc mai táng được theo đúng phong tục tập quán. Do đó chi phí này được trích từ khối tài sản do người chết để lại để thanh toán cho những người có quyền. Tuy nhiên, cần lưu ý, chi phí bảo quản di sản là những khoản buộc phải thanh toán cho người bỏ ra chi phí này còn thù lao phụ thuộc vào chất lượng của việc bảo quản và yếu tố khác như thỏa thuận với người thừa kế.7 Thứ tư, các chi phí khác: hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, chi phí khác có thể là “chi phí cho việc vận chuyển di sản, tiền sửa chữa khi di sản hư hỏng, về một sự kiện bất ngờ”8.
Khái niệm về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ được hiểu là sự xử sự mà một người phải thực hiện vì một hoặc nhiều người khác, nhưng sự thực hiện đó không được đặt dưới sự bảo đảm của nhà nước bằng pháp luật. Pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn theo lương tâm của mình để làm tròn bổn phận làm người9. Nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp luật bao gồm quan hệ tài sản và nhân thân của các chủ thể. Theo đó, chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của các bên có quyền.
Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu của chủ thể mang quyền. Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên 7 Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Tập 2, Nxb.