Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Nội dung của chương này nhằm tổng hợp các hướng nghiên cứu liên quan đến triển khai tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp tại Việt Nam và quốc tế. Thông qua việc tổng hợp này, nghiên cứu chỉ ra xu hướng, những điểm thống nhất và những lỗ trống có thể tiếp cận và cơ sở cho việc thực hiện nghiên cứu của tác giả trong các chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp.
Nội dung của chương này nhằm tổng hợp, xây dựng khung lý thuyết về tăng trưởng xanh tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp, hình thành tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới hoạt động tăng trưởng xanh của doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Với cơ sở lý thuyết tổng hợp cùng với việc kế thừa các nghiên cứu trước đó, nội dung của chương này nhằm xây dựng phương pháp 11 nghiên cứu: xây dựng bảng hỏi, tiến hành khảo sát, phỏng vấn các đối tượng liên quan, số lượng mẫu khảo sát và phương pháp định lượng nhằm chỉ ra các yếu tố tác động tới hoạt động tăng trưởng xanh tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Chương 4: Thực trạng triển khai hoạt động tăng trưởng xanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Chương này sẽ khái quát về quá trình phát triển của khu công nghiệp Đồng Nai và đi sâu phân tích thực trạng triển khai các hoạt động tăng trưởng xanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu. Để từ đó thấy được xu hướng của các hoạt động này trong bối cảnh hiện nay. Chương 5: Yếu tố tác động tới hoạt động tăng trưởng xanh tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Chương này sẽ chỉ ra các yếu tố chính tác động tới việc triển khai các hoạt động tăng trưởng xanh tại doanh nghiệp trên địa bàn khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai.
Kết hợp giữa kết quả đánh giá định tính tại chương 4, kết quả nghiên cứu định lượng tại chương 5, nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng triển khai hoạt động hướng đến tăng trưởng xanh của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chương 6: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động tăng trưởng xanh cho các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá của chương 5, nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo. 12 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ DOANH NGHIỆP Chủ đề tăng trưởng xanh đã được nghiên cứu phổ biến thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam số lượng nghiên cứu còn khá hạn chế.
Tiếp cận ở góc độ vĩ mô, thông thường các tác giả thường đề cập đến vai trò cũng như thách thức của tăng trưởng xanh đối với các nền kinh tế. Tiếp cận ở góc độ doanh nghiệp, các nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu về vai trò, các hoạt động và các yếu tố tác động đến tăng trưởng xanh của doanh nghiệp. Tổng hợp, một số những hướng nghiên cứu chủ yếu về tăng trưởng xanh tác giả đã tiếp cận được như sau: 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế 1.
Tiếp cận từ góc độ vĩ mô Hầu hết, các nhà nghiên cứu đều thống nhất tăng trưởng xanh có nhiều cơ hội để phát triển ở các quốc gia, điều này xuất phát từ việc mô hình tăng trưởng hiện tại của nhiều quốc gia chủ yếu xuất phát từ việc tận dụng các nguồn tài nguyên, ít coi trọng yếu tố môi trường. Chính vì vậy, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng phức tạp. Theo đó, tăng trưởng xanh là bước chuyển tiếp quan trọng nhằm hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững trong tương lai (OECD,2011c; ESCAP,2013). Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP,2012) đưa ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh tế được nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng, đó là phát triển “nền kinh tế xanh” (Green Economy).
Theo World bank (2012), tăng trưởng xanh là mô hình tăng trưởng hiệu quả, sạch và có tính đàn hồi – hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sạch trong việc giảm thiểu tác động gây ô nhiễm môi trường và có tính đàn hồi, chống chịu được trước các thiên tai, thảm họa thiên nhiên. Theo OECD (2011d), tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế với sự đảm bảo các nguồn lực tự nhiên sẽ tiếp tục đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tài nguyên và môi trường sống cho con người trong tương lai. Để thực hiện được điều này, tăng trưởng xanh có nội hàm thúc đẩy sự đổi mới, đầu tư và cạnh tranh nhằm mang lại những cơ hội kinh tế mới và sự tăng trưởng hướng tới “xanh hóa” và ổn định nền kinh tế. 13 Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên định nghĩa thường được các nhà khoa học thống nhất: tăng trưởng xanh là sự kết hợp giữa việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả kèm theo hạn chế tác động tới môi trường.
Tăng trưởng xanh là cả một quá trình, với sự tham gia đóng góp của tất cả các đối tượng trong nền kinh tế, từ người tiêu dùng, nhà sản xuất, Chính phủ và các bên hữu quan (World bank, 2012). Điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng xanh ở các quốc gia có thể xuất phát từ tầm quan trọng, ý nghĩa của quá trình này. Tuy nhiên, việc thực hiện lại không phải đơn giản, bởi có nhiều rào cản khi thực hiện: (1) thể chế; (2) công nghệ; (3) cải tiến; (4) nguồn nhân lực; (5) tài chính… Theo World Bank (2012), tài chính không phải là yếu tố chính, mà vấn đề chính lại xuất phát từ nhận thức của các đối tượng trong xã hội. Những nghiên cứu này cũng đã chỉ ra, để thúc đẩy tăng trưởng xanh bên cạnh các chính sách hỗ trợ của Chính phủ (liên quan đến các công cụ thuế, chính sách tài chính, công nghệ…) thì cần có sự gắn kết với các bên hữu quan, từ người tiêu dùng, doanh nghiệp, tổ chức tài chính cho đến các tổ chức phi chính phủ.
Tiếp cận góc độ vi mô, từ phía các doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu tiếp cận về các hoạt động và tiêu chí hướng đến tăng trưởng xanh của doanh nghiệp Có nhiều nghiên cứu tiếp cận về hoạt động TTX, tuy nhiên tác giả tập trung theo 2 cách tiếp cận phổ biến hiện nay: (1) Sản xuất bền vững: việc sử dụng các yếu tố đầu vào đến hoàn thiện sản phẩm đầu ra với việc sử dụng một quy trình và hệ thống không gây ô nhiễm của các doanh nghiệp (OECD, 2009); (2) Cải tiến sinh thái: các hoạt động của doanh nghiệp mà ứng dụng hoặc thực thi những cái mới một cách chủ đích hoặc không chủ đích nhằm vừa nâng cao hiệu quả, vừa giảm thiểu sự tác động tiêu cực tới môi trường (Nasr& Thurston,2006; OECD,2009). Mặc dù 2 cách tiếp cận khác nhau, nhưng có sự tương đồng: áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm mục tiêu cải tiến, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp đồng thời tránh/ giảm thiểu những tác động tiêu cực của hoạt động sản xuất tới môi trường sinh thái. Để đạt được sự chuyển đổi thành công trong thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hơn, các doanh nghiệp cần cụ thể bằng các hoạt động.
Theo đó, hoạt động xanh (tăng trưởng xanh) là sự kết hợp giữa tăng hiệu quả cùng với xem xét 14 các yếu tố về môi trường, cụ thể là giảm thiểu tác động tới môi trường: đó là việc ứng dụng cải tiến sinh thái cùng với phân tích quy trình hoạt động sản xuất, kinh doanh vào các hoạt động thực tiễn tại doanh nghiệp (Wugan Cai & Guangpei Li, 2018; Chin et al; 2016). Cách tiếp cận này, hoạt động TTX mặc dù ở cấp độ doanh nghiệp nhưng những ảnh hưởng của nó có thể tác động ở phạm vi rộng hơn: tạo ra sự lan toả, định hướng tiêu dùng mới, xanh hơn, gần gũi với môi trường, qua đó có thể tạo ra tác động ở tầm trung gian hoặc toàn bộ nền kinh tế. Việc phân loại, cũng như đánh giá các hoạt động TTX được nhiều nhà khoa học tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo Rennings (2000), Kemp&Foxcon(2007), tiếp cận từ góc độ cải tiến sinh thái, chia hoạt động này thành 4 loại trên cơ sở mức độ tác động của các hoạt động triển khai trong doanh nghiệp: (1) Giải pháp công nghệ: triển khai các thay đổi, cải tiến về công nghệ tác động trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp; (2) Cải tiến trong tổ chức: thay đổi trong công cụ quản lý doanh nghiệp hay cải tiến trong dịch vụ. Nội dung này liên quan đến những thay đổi trong cơ sở hạ tầng và áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ.
(3) Xã hội: chú trọng đến thay đổi giá trị của con người và hành vi tiêu dùng hoặc phong cách sống hướng đến giá trị bền vững hơn. (4) Thế chế: nhấn mạnh về đặc thù cải tiến của thể chế nhằm phản hồi lại những vấn đề của phát triển bền vững bởi cộng đồng địa phương và các tổ chức, chương trình hoặc thương mại toàn cầu. Chúng được coi là nền tảng để hướng đến sự phát triển bền vững. Nghiên cứu của Andersen (2008) đã phân loại cải tiến sinh thái thành 4 nội dung: (1) Thêm vào (add-on): hướng đến quản lý nguồn lực và dịch vụ liên quan đến vấn đề ô nhiễm nhằm cải tiến hiện trạng và thúc đẩy những vấn đề môi trường.
(2) Tích hợp: là việc áp dụng công nghệ về quy trình, sản xuất sạch hơn so với đối thủ, nhằm đóng góp vào việc giải quyết hoặc giảm thiểu những vấn đề môi trường trong công ty hoặc tổ chức cũng như xã hội. (3) Thay thế:là việc sử dụng những xu hướng công nghệ mới thay thế cho những công nghệ cũ, tạo ra những sản phẩm cấp tiến, ít ảnh hưởng đến môi trường hơn. 15 (4) Tổ chức hướng đến một hình thức sinh thái hiệu quả của xã hội: bao gồm những cách thức mới để tổ chức sản xuất và tiêu dùng hệ thống rộng hơn, đòi hỏi có sự tham gia, tương tác giữa các tổ chức. Ở cấp độ này, các sáng kiến có ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế, góp phần đổi mới những công nghệ khác, tạo ra xu hướng mới trong tiêu dùng, sản xuất.