Luận án tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam - NEU

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận văn tiến sỹ tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế việt nam": { "ai_description": "Tìm hiểu tác động của tự

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Kinh tế học

Tác giả

Lê Thị Kim Chung

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

245
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam

Tự do hóa thương mại là quá trình giảm dần các rào cản thương mại như thuế quan, hạn ngạch và các quy định phi thuế quan giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, quá trình này bắt đầu từ những năm 1990 với việc gia nhập ASEAN và WTO, sau đó mở rộng thông qua hàng loạt Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) như CPTPP, EVFTA và RCEP. Tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam thể hiện qua nhiều khía cạnh: thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện hiệu quả sản xuất, gia tăng đầu tư nước ngoài và nâng cao năng suất lao động. Nghiên cứu chỉ ra rằng tự do hóa thương mại giúp đa dạng hóa sản phẩm tiêu dùng, giảm giá thành nhờ cạnh tranh, đồng thời buộc doanh nghiệp trong nước phải cải tiến công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra thách thức cho các ngành kém cạnh tranh và doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

1.1. Khái niệm và các lý thuyết nền tảng

Tự do hóa thương mại dựa trên các lý thuyết kinh tế học quốc tế như thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter và lý thuyết về cạnh tranh không hoàn hảo của Paul Krugman. Theo thuyết lợi thế so sánh, mỗi quốc gia nên tập trung sản xuất những sản phẩm có chi phí cơ hội thấp hơn so với các sản phẩm khác, từ đó tối đa hóa lợi ích toàn cầu. Lý thuyết Porter nhấn mạnh vai trò của năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua sự đổi mới, năng suất và điều kiện sản xuất. Trong khi đó, Krugman cho rằng thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần dựa trên lợi thế so sánh mà còn chịu ảnh hưởng của quy mô thị trường, thương hiệu và mạng lưới sản xuất toàn cầu.

1.2. Quá trình triển khai tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu quá trình tự do hóa thương mại từ năm 1995 khi gia nhập ASEAN, sau đó là WTO vào năm 2007. Đến nay, Việt Nam đã ký kết và thực thi 16 FTA, trong đó có những hiệp định thế hệ mới như CPTPP (2019) và EVFTA (2020). Các cam kết cắt giảm thuế quan lên tới 90-100% đối với hàng hóa xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, thủy sản và điện tử. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm kể từ năm 2000, trong đó đóng góp đáng kể đến từ các FTA. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đối mặt với thách thức về cơ sở hạ tầng logistics, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền.

II. Phân tích tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam

Tự do hóa thương mại đã tác động đa chiều đến nền kinh tế Việt Nam, vừa tạo ra cơ hội phát triển vừa đặt ra những thách thức cần giải quyết. Về mặt tích cực, quá trình này thúc đẩy xuất khẩu, gia tăng đầu tư nước ngoài và nâng cao năng suất lao động thông qua cạnh tranh toàn cầu. Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 14,5 tỷ USD năm 1995 lên hơn 336 tỷ USD năm 2022, với tỷ trọng xuất khẩu sang các nước trong FTA chiếm trên 70%. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng tăng mạnh, đạt 31,8 tỷ USD vào năm 2022, chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất chế biến, chế tạo. Ngoài ra, tự do hóa thương mại còn giúp cải thiện chất lượng sản phẩm nhờ tiếp cận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này cũng gây áp lực cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những ngành sản xuất kém hiệu quả như nông nghiệp truyền thống.

2.1. Ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Tự do hóa thương mại góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua ba kênh chính: xuất khẩu, đầu tư và hiệu quả sản xuất. Xuất khẩu tăng trưởng nhanh giúp gia tăng thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thương mại và tạo việc làm. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, mỗi 1% tăng trưởng xuất khẩu có thể kéo theo 0,3-0,5% tăng trưởng GDP. Đầu tư nước ngoài tăng cường vốn sản xuất, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng suất lao động. Điển hình, ngành điện tử Việt Nam đã thu hút hơn 100 tỷ USD FDI từ năm 2010, giúp ngành này chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, cạnh tranh toàn cầu buộc doanh nghiệp trong nước cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất.

2.2. Tác động đến thị trường lao động

Tự do hóa thương mại có tác động kép đến thị trường lao động: vừa tạo ra việc làm mới trong các ngành xuất khẩu vừa gây sức ép cho lao động trong các ngành kém cạnh tranh. Các ngành hưởng lợi trực tiếp bao gồm dệt may, da giày, điện tử với nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, ngành dệt may đã tạo việc làm cho hơn 2 triệu lao động vào năm 2022. Tuy nhiên, các ngành sản xuất truyền thống như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đối mặt với nguy cơ mất việc làm do không đủ sức cạnh tranh. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim Chung (2019) chỉ ra rằng tự do hóa thương mại làm tăng tỷ lệ thất nghiệp tạm thời trong ngắn hạn tại các ngành kém cạnh tranh, nhưng về dài hạn sẽ tái phân bổ lao động sang những ngành có năng suất cao hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của tự do hóa thương mại

Để tối đa hóa lợi ích từ tự do hóa thương mại, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ cải cách thể chế, nâng cao năng lực doanh nghiệp đến phát triển hạ tầng và đào tạo nhân lực. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại, minh bạch hóa các quy định và thủ tục hành chính nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua các chương trình đào tạo, tiếp cận vốn vay ưu đãi và ứng dụng công nghệ 4.0. Thứ ba, phát triển hạ tầng logistics và giao thông vận tải để giảm chi phí logistics, hiện chiếm 20-25% GDP, cao hơn mức trung bình của thế giới. Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để tận dụng tối đa cơ hội từ các FTA.

3.1. Cải cách thể chế và chính sách hỗ trợ

Cải cách thể chế là yếu tố then chốt để tận dụng hiệu quả các FTA. Theo khuyến nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á, Việt Nam cần đơn giản hóa thủ tục hải quan, áp dụng hệ thống quản lý rủi ro trong kiểm tra chuyên ngành và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thương mại. Chính phủ cần xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) như ưu đãi thuế, đào tạo quản trị, hỗ trợ tiếp cận thị trường nước ngoài thông qua các chương trình xúc tiến thương mại. Ngoài ra, cần tăng cường phối hợp giữa các bộ ngành trong triển khai các cam kết FTA để tránh chồng chéo và xung đột pháp luật.

3.2. Phát triển nguồn nhân lực và công nghệ

Nguồn nhân lực chất lượng cao là chìa khóa để nâng cao năng suất và cạnh tranh trong bối cảnh tự do hóa thương mại. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tại Việt Nam chỉ đạt 25% vào năm 2022, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Do đó, cần đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt trong các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, cơ khí. Bên cạnh đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) thông qua các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính. Theo nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, nếu tăng tỷ lệ chi cho R&D lên 1,5% GDP, năng suất lao động có thể tăng 3-5% mỗi năm.

IV. Kết luận và khuyến nghị chính sách từ nghiên cứu

Tự do hóa thương mại đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam, góp phần thúc đẩy xuất khẩu, gia tăng đầu tư nước ngoài và cải thiện năng suất lao động. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những thách thức đáng kể như cạnh tranh gay gắt, mất việc làm trong các ngành kém hiệu quả và áp lực cải cách thể chế. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ cải cách thể chế, nâng cao năng lực doanh nghiệp đến phát triển hạ tầng và đào tạo nhân lực. Đặc biệt, cần tập trung vào ba lĩnh vực: thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính; thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; thứ ba, phát triển hạ tầng logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ giúp Việt Nam tận dụng tối đa cơ hội từ tự do hóa thương mại, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực, hướng tới sự phát triển bền vững và bao trùm.

4.1. Tóm lược kết quả nghiên cứu chính

Nghiên cứu đã chứng minh tự do hóa thương mại có tác động tích cực đến kinh tế Việt Nam thông qua tăng trưởng xuất khẩu, thu hút FDI và nâng cao năng suất lao động. Số liệu thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm kể từ năm 2000, đóng góp 20% vào tăng trưởng GDP. Đầu tư nước ngoài tăng từ 1,5 tỷ USD năm 1995 lên 31,8 tỷ USD năm 2022, chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất chế biến, chế tạo. Ngoài ra, tự do hóa thương mại còn giúp cải thiện chất lượng sản phẩm nhờ tiếp cận công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những thách thức như cạnh tranh gay gắt trong các ngành kém hiệu quả, tỷ lệ thất nghiệp tạm thời tăng trong ngắn hạn và áp lực cải cách thể chế.

4.2. Khuyến nghị chính sách cho giai đoạn tới

Để tối đa hóa lợi ích từ tự do hóa thương mại, Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính. Thứ nhất, cải cách thể chế bằng cách đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch hóa các quy định và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thương mại. Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua đào tạo quản trị, tiếp cận vốn vay ưu đãi và ứng dụng công nghệ 4.0. Thứ ba, phát triển hạ tầng logistics và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp Việt Nam tận dụng tối đa cơ hội từ các FTA, hướng tới sự phát triển bền vững và bao trùm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn tiến sỹ tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, luận án sẽ khái quát những vấn đề lý luận chung, cơ bản về TM tự do nói chung và tác động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa TM nói riêng. Đồng thời, luận án cũng thực hiện tổng quan các nghiên cứu về tác động của tự do hóa TM đã nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định khoảng trống nghiên cứu và lựa chọn hướng nghiên cứu phù hợp cho đề tài. Một số vấn đề lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế 1.

Tự do hóa thương mại Đỗ Đức Bình và Ngô Thị Tuyết Mai (2013, tr.202) cho rằng “Tự do hóa TM đó là sự nới lỏng, mềm hóa, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế”. Xu hướng tự do hóa TM bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ khác nhau là toàn cầu hóa và khu vực hóa, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công lao động quốc tế phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự do hóa TM đều đem lại lợi ích cho từng quốc gia và tạo điều kiện cho việc phát huy các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của từng quốc gia dù trình độ phát triển khác nhau. Tự do hóa TM liên quan đến một loạt các hoạt động để đạt được sự cởi mở về TM quốc tế, bao gồm giảm thiểu và loại bỏ hàng rào thuế quan và các rào cản khác giữa các quốc gia TM để tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho các hoạt động TM giữa các quốc gia phát triển cả bề rộng và bề sâu.

Cuối cùng, kết quả của tự do hóa TM đem lại là hàng hóa, công nghệ cũng như các hoạt động dịch vụ của nước ngoài được xâm nhập vào thị trường nội địa ngày càng dễ dàng hơn, bên cạnh đó XK hàng hóa và dịch vụ từ trong nước ra nước ngoài cũng thuận lợi hơn. Điều đó tức là phải có sự kết hợp hài hòa giữa tăng cường XK với nới lỏng NK. Để thực hiện tự do hóa TM các biện pháp được áp dụng theo chiều hướng nới lỏng dần với bước đi phù hợp và phải dựa trên cơ sở các cam kết song phương và đa phương của các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang áp dụng 9 trong quan hệ TM quốc tế. Các biện pháp này có thể đòi hỏi các nước tham gia vào FTA giảm hoặc loại bỏ các rào cản TM đối với các biểu thuế, hạn ngạch, trợ cấp XK và thuế.

Về bản chất thì đó là việc thực hiện các biện pháp cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan đã và đang áp dụng. Các lý thuyết về tác động của thương mại tự do đến nền kinh tế Cho đến nay chưa có một lý thuyết toàn diện nghiên cứu tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế. Mà tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế thường được xem xét trong các lý thuyết về thương mại quốc tế. Các lý thuyết đã giải thích nguồn gốc, cơ cấu và tác động của thương mại tự do.

Các lý thuyết cổ điển Lý thuyết trọng thương Chủ nghĩa trọng thương được coi là lý thuyết đầu tiên về TMQT. Các nhà kinh tế trọng thương tin rằng quyền lực quốc gia phụ thuộc vào sự giàu có của kinh tế quốc gia. Và khi đó, sự giàu có tương đương với sở hữu kim loại quý như vàng và bạc. Nội dung lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương bị chi phối bởi các cuộc tranh luận về thương mại xuyên quốc gia và các chính sách của các quốc gia phương Tây giữa thế kỷ 16 và thế kỷ 18.

Mô hình của chủ nghĩa trọng thương nhấn mạnh việc các nước nên hạn chế NK bằng cách sử dụng hàng rào thuế quan và hạn ngạch, đồng thời khuyến khích XK bằng cách hỗ trợ và trợ cấp XK, bên cạnh đó là việc thu về các kim loại quý. Những nhà trọng thương khuyến khích XK vì nó sẽ kích thích sản xuất trong nước, từ đó làm gia tăng của cải (hay sự giàu có) cho một quốc gia. Trái lại, họ cho rằng nên hạn chế NK vì NK làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước do phải dùng vàng bạc chi trả cho các quốc gia khác dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia. Học thuyết này cho rằng, để một quốc gia duy trì cán cân thương mại dương, việc thay thế nhập khẩu và tích trữ của cải tài chính (chủ yếu là vàng và bạc) cần được khuyến khích, và cần thúc đẩy xuất khẩu.

Những nhà phê bình mô hình Chủ nghĩa trọng thương chỉ ra rằng lý thuyết này là “một sự thống nhất sai lầm từ những sự kiện hoàn toàn khác biệt”, chủ nghĩa trọng thương phần nào đã cản trở sự tăng trưởng, đặc biệt sự tăng trưởng của các nước đang phát triển. Hệ thống chủ nghĩa trọng thương chẳng là gì khác ngoài một âm mưu sâu sa của các nhà công nghiệp và thương nghiệp để gây bất lợi cho người tiêu dùng. Học thuyết không cho người tiêu dùng trong nước cơ hội để lựa chọn giữa các sản phẩm đa dạng được sản xuất tại các nước khác. Học thuyết được coi là “trò chơi vô ích”, hoặc 10 là “trò chơi thắng thua”, điều đó có nghĩa là bất kì của cải nào mà một quốc gia có được đều đem đến sự tổn thất tương ứng ở một quốc gia khác tham gia giao thương.

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Lý thuyết này được đưa ra bởi Adam Smith, người được coi là cha đẻ của nền kinh tế hiện đại, và cũng là người đầu tiên ủng hộ nền thương mại tự do. Quan điểm của ông được thể hiện trong cuốn “Của cải của các quốc gia” xuất bản vào năm 1776. Ông định nghĩa lợi thế tuyệt đối là quá trình mà thông qua đó một cá nhân hoặc một quốc gia có thể sản xuất một sản phẩm nhất định với giá thành thấp hơn các quốc gia khác hoặc tại các quốc gia khác. Vì vậy, một quốc gia có tham gia thương mại quốc tế nên chuyên môn hóa vào việc sản xuất và XK những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối so với các quốc gia khác, rồi sau đó thương mại với các nước khác để đổi lại những mặt hàng mình không sản xuất.

Smith khẳng định việc chuyên môn hóa trong sản xuất hàng hóa sẽ dẫn đến tăng tổng sản lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dẫn đến gia tăng sự giàu có thực sự của quốc gia và người dân. TM tự do sẽ giúp cho việc phân bổ và sử dụng nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, từ đó tất cả các quốc gia đều có lợi ích khi tham gia vào TM tự do. Trái với quan điểm của các tác giả trọng thương, Adam Smith cho rằng TM tự do có lợi cho tất cả các quốc gia, và vì vậy chính phủ không nên can thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung. Smith chỉ ra rằng mỗi quốc gia hoặc cá nhân có một lợi thế tuyệt đối so với những quốc gia, cá nhân khác.

Sẽ ra sao nếu một quốc gia có lợi thể tuyệt đối trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng? Liệu quốc gia có tiếp tục sản xuất tất cả các sản phẩm cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu? Liệu việc hai quốc gia có thể tham gia thương mại và cùng có lợi khi chỉ có một quốc gia sản xuất tất cả hàng hóa? Lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ trả lời cho tất cả câu hỏi trên. Lý thuyết lợi thế so sánh Để giải quyết một số vấn đề chưa có câu trả lời trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết về lợi thế so sánh được đưa ra bởi David Ricardo vào năm 1817, được thể hiện trong cuốn sách “Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế”. Mục tiêu của Ricardo hướng tới là chứng minh rằng thương mại quốc tế đều đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia, và để minh chứng cho tầm quan trọng của chính sách thương mại tự do. Trong mô hình của Ricardo, lao động được coi là yếu tố duy nhất của sản xuất, nên lý thuyết này cho rằng chi phí lao động là yếu tố biến đổi duy nhất và sự chuyên môn hóa là kết quả từ hoạt động thương mại quốc tế.

Ricardo chỉ ra các quốc gia có thể cùng 11 hưởng lợi từ TMQT kể cả khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất tất cả mặt hàng. Một quốc gia nên chuyên môn hóa vào việc sản xuất và XK các hàng hóa mà mình có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh trong việc sản xuất sản phẩm của một quốc gia thể hiện ở giá cả sản xuất ra sản phẩm đó thấp hơn tương đối so với các quốc gia khác (hay nói cách khác là quốc gia đó có chi phí cơ hội để sản xuất ra hàng hóa đó thấp hơn so với các quốc gia khác). Từ đó có thể khai thác triệt để lợi thế từ chuyên môn hóa, tạo ra mức sản lượng lớn hơn cho các quốc gia so với khi chưa có thương mại tự do, và sự đa dạng hóa các mặt hàng tăng lên đem lại lợi ích cho người tiêu dùng.

Khi tiêu dùng tăng, doanh thu tăng, tỷ lệ tiết kiệm tăng, do đó dẫn đến tích lũy vốn và cuối cùng tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn, tất cả các quốc gia đều trở nên giàu có hơn. Hiện tượng khác biệt trong lợi thế so sánh làm nổi bật lợi ích của TM tự do mặc dù các nước đối tác TM không bình đẳng. Bên cạnh đó, trong lý thuyết TM quốc tế của Ricardo về bản chất không có luận điểm nào cho rằng thuế quan lúc nào cũng sai. Mà theo ông, thuế quan có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

Vì vậy, để đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, tạo thêm công ăn việc làm thì dựa vào thương mại tự do. Tuy nhiên, vì mục tiêu anh ninh và ổn định chính trị trong những thời điểm cụ thể thì một quốc gia nên sử dụng một cách thận trọng chính sách bảo hộ của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ