Chương I, trước hết giới thiệu các loại hoạt động đầu tư và vai trò của mỗi loại đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Từ đó giới hạn phạm vi nghiên cứu của môn học Kinh tế đầu tư là: Chỉ đi sâu nghiên cứu các vấn đề kinh tế của đầu tư phát triển- loại đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là chìa khoá của sự tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Xem xét mối quan hệ giữa môn học Kinh tế đầu tư với các môn khoa học khác cùng nghiên cứu lĩnh vực đầu tư như kinh tế xây dựng, tổ chức kế hoạch hoá thi công, kế toán đầu tư và xây dựng cơ bản, thống kê đầu tư và xây dựng cơ bản, kỹ thuật xây dựng. Lam rõ đối tượng nghiên cứu của môn học và sự cần thiết phải trang bị các kiến thức kinh tế đầu tư một cách cơ bản và có hệ thống; làm rõ nhiệm vụ nghiên cứu mà môn học Kinh tế đầu tư phải thực hiện để đảm bảo cung ứng được đầy đủ các kiến thức cơ bản về kinh tế đầu tư mà các cử nhân kinh tế đầu tư cần phải nắm.
Trình bày những cơ sở lý luận và phương pháp luận của môn học, qua đó tạo thuận lợi cho sinh viên và độc giả tiếp thu các kiến thức kinh tế đầu tư được đề cập trong giáo trình và vận dụng sáng tạo trong công tác sau này. Trình bày khái quát những nội dung nghiên cứu của môn học sẽ được trình bày trong 9 chương giáo trình. „_ Trường Đại học Kinh tế Quóc đản 13 GIÁO TRÌNH KINH TẾ ĐẦU TƯ —— CÂU HỘI ÔN TAP 1. Sự cần thiết phải trang bị các kiến thức về kinh tế đầu tư.
Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của môn học 3. Nội dung nghiên cứu của môn học 4. Mối quan hệ giữa món học kinh tế đầu tư với các món khoa học khác cùng nghiên cứu các hiện tượng trong hoạt động đầu tư. Cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận của môn học.
Chương II. Những vấn dé cơ bản của đầu tư phát triển Chương II NHỮNG VẤN ĐỀ CO BAN CUA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN |. BAN CHAT CUA DAU TU PHAT TRIỂN 1. Khai niém dau tu phat trién Đầu tư phát triển là bộ phân cơ bản của đầu tư, là việc chỉ dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị.) và tài sản trí tuệ (trí thức, kỹ năng.), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đâu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, dất đai, lao dộng, máy móc thiết bị, tài nguyên. Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đâu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định.
Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là dầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ. Trên góc độ tính chất và mục dích đầu tư, đối tương đầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu.tư chia thành: lọai được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đâu tư. Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình.
Tài sản vật chất, ở đây, là những tài sản cố định được sử dụng cho sản sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động. Tài sản vô hình như phát minh sáng chế, uy tín, thương hiệu.qua cia dau tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà - xưởng, thiết bị.), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật.) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền. Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản .„Trường Đại học Kinh tế Quée dan 15 GIÁO TRÌNH KINH TẾ ĐẦU TƯ_ xuất của xã hói. Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hói thu được với chỉ phí chỉ ra để đạt kết quả đó.
Kết quả và hiệu quả đáu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương điện chủ đấu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giưa các loại lợi ích, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra piám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Thực tế, có những khoản đầu tư tuy khóng trực ti€p tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,.nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó, cũng được xem là đầu tư phát triển Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy tang trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chỉ phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực. Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định, Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.
Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử dụng vốn đầu tư (Luật đầu tư 2005). Theo nghĩa đây đủ, chủ đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định đâu tư, quản lý quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợ: từ thành quả đầu tư đó. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tứ, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do đó, có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư. Thực tế quản lý còn có những nhận thức không đẩy đủ về chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ đài và tồn tại vấn dé “do trễ thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả, chỉ phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau.
Trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tầng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị. Ví dụ, việc mua bán tài sản cố định giữa 16 Trường Đại học Kinh tẻ Quốc dàn _ Chương II. Những vấn dé cơ bản của đầu tư phát triển +các đơn vị, vẫn được xem là hoạt động đầu tư của các đơn vị này, nhưng trẻn phương điện nền kinh tế, không có đầu tư tầng thêm mà chỉ chuyển quyền sở hữu từ đơn vị này sang đơn vị Khác Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài (chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ triển ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lợi nhuận tùy thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh tdoanh của công ty phát hành (mua cổ phiếu.
Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng tài sản thực (tài sản vật chất) cho nền lkinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ llàm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư. Mua cổ phiếu (đầu tư cổ iphiếu) gắn với việc chuyển quyền sở hữu và hoạt động cho vay dẫn đến qchuyển quyền sử dụng, do vậy, hai loại đầu tư này đều thuộc hoạt động đầu tư dịch chuyển. Đầu tư tài chính thường được thực hiên gián tiếp Ithông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán. :Đầu tư tài chính còn có đặc điểm là: chủ đầu tư thường có kỳ vọng thu được lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tăng giảm không theo ý muốn.
Tuy nhiên, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển và là một trong những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích, giảm thiểu rủi ro tcho các chủ đầu tư. Đặcjac điểmdiem cuacủa đầudau tư phát phat triể trien HOC HONG2 ĐỨC Hoạt động đầu tư phát triển có những áo lễm-chủ- yếu-sau-dâ - Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cãi\N®hiet cHott 13/0/01) ầu ttư phát triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiên đầu tư. Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có qgiải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, qui lhoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chất chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí won theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm.
Lao động cần sử dụng cho cáẻ dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự sán trọng điểm quốc gia.