CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU NGUYÊN CONTAINER (FCL) BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1. Cơ sở lý thuyết về giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường biển 1. Hoạt động nhập khẩu Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải quốc tế (FIATA) về dịch vụ giao nhận: “Dịch vụ giao nhận được định nghĩa là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa.” (Nguyễn Xuân Quyết, 2024) Theo Bộ Luật Thương Mại của Việt Nam năm 1997 có đề cập đến dịch vụ giao nhận hàng hóa, tuy nhiên năm 2005 thì không còn nhắc đến dịch vụ giao nhận thay vào đó là đề cập đến dịch vụ logistics. Theo Mục 4, Điều 233, Luật Thương mại Việt Nam 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gí-tíc.” Như vậy, hoạt động giao nhận là thực hiện những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người người hàng) – Forwarder (FWD) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng)– Consignee (Cnee). Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết các loại hàng hóa nhập khẩu cần giấy phép hoặc bị kiểm soát đặc biệt như các mặt hàng liên quan đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe cộng đồng. Những quy định này không chỉ giúp Việt Nam quản lý hiệu quả hoạt động thương mại mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận các thị trường quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Hoạt động giao nhận Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa cụ thể như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người bán và người mua ở cách xa nhau. Việc di chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác là do người vận tải đảm nhận, đây là một khâu rất quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương, nếu thiếu nó hợp đồng ngoại thương không thể thực hiện được. Để cho quá trình vận tải được Bắt Đầu – Tiếp Tục – Kết thúc, tức là hàng hóa đến tay người mua, ta cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan đến quá trình vận chuyển như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, tổ chức xếp/dỡ, giao hàng cho người nhận ở nơi đến.
Tất cả các công việc này được gọi chung “Nghiệp vụ giao nhận – Forwarding”. Theo quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (Federation Internationale de Associations de Transitaries et Assimilaimes – FIATA) về dịch vụ giao nhận được định nghĩa như bất kì loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa, cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu nhận chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo luật thương mại Việt Nam thì dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải và người giao nhận khác. Người giao nhận 1.
Khái niệm người giao nhận Theo khái niệm của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): “Người giao nhận (Forwarder, freight forwarder hay forwarding agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân họ không phải người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi 5 công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…” Theo Công ước Geneva năm 1944, người giao nhận là một tổ chức trung gian thực hiện các dịch vụ giao nhận như lập kế hoạch, sắp xếp vận chuyển, xử lý chứng từ và đảm bảo các yêu cầu pháp lý liên quan đến hàng hóa, thường đại diện cho lợi ích của chủ hàng. Theo định nghĩa giao nhận vận tải do Ủy ban kinh tế, xã hội Châu Á Thái Bình Dương ESCAP đưa ra như sau: “Người giao nhận vận tải là đại lý ủy thác thay mặt nhà xuất khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản như lưu cước, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng”. Theo luật thương mại Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 10/05/1997 thì: “Người giao nhận là người làm dịch vụ giao nhận, là các thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, các công ty giao nhận hoặc bất kỳ thương nhân nào khác. Tóm lại người giao nhận hàng hóa là người thực hiện các dịch vụ giao nhận, theo sự ủy thác của khách hàng hoặc người chuyên chở, hay nói cách khác người kinh doanh các dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận. Người giao nhận có thể là chủ 11 hàng (khi chủ hàng tự đứng ra thực hiện các công việc giao nhận như vận chuyển hàng hóa và thực hiện các thủ tục có liên quan cho hàng hóa của mình), là chủ tàu hay chủ hãng bay (khi họ thay mặt người chủ hàng thực hiện các dịch vụ giao nhận), các công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó. Vai trò của người giao nhận Trong thương mại quốc tế, người giao nhận đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau và có nhiều vai trò khác nhau: - Môi giới hải quan (Custom broker): Người giao nhận thay mặt chủ hàng chuẩn bị các loại chứng từ cần thiết và tiến hành khai báo hải quan cho lô hàng mình được ủy thác.
Trên cơ sở được nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt cho người xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan như môi giới hải quan 6 - Đại lý (Agent): Khi nhận uỷ thác của người chuyên chở hoặc từ chủ hàng để thực hiện các công việc khác nhau như vận chuyển, dành chỗ chở hàng trong vận chuyển quốc tế với các hãng tàu, giao hàng, nhận hàng, lập chứng từ, làm thủ tục hải quan, lưu kho trên cơ sở của hợp đồng ủy thác của người nhập khẩu hay xuất khẩu, tùy thuộc vào hợp đồng mua bán thì người giao nhận là một đại lý của người chuyên chở hoặc của người gửi hàng. - Người gom hàng (Cargo consolidator): Người giao nhận đã từ lâu cung cấp dịch vụ gom hàng cho vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải container thì dịch vụ gom hàng là không thể thiếu, họ là người tập hợp những lô hàng lẻ (LCL) thành những lô hàng nguyên (FCL). - Người chuyên chở (Carrier): Người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Nếu người giao nhận trực tiếp chuyên chở thì họ là người chuyên chở thực tế (Performing carrier), nếu họ ký hợp đồng mà mà không trực tiếp chuyên chở thì lúc đó người giao nhận như là người thầu chuyên chở. - Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO): Người giao nhận cung cấp dịch vụ hàng hải đi suốt hoặc còn gọi là vận tải từ cửa tới cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò như người kinh doanh vận tải đa phương thức MTO. Khi đó MTO cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa từ nơi nhận hàng đầu tiên đến nơi giao hàng cuối cùng. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận - Theo điều 167 Luật thương mại Việt Nam quy định, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau đây: + Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác + Thực hiện nghĩa vụ đầy đủ của mình theo hợp đồng.
+ Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng. + Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn thêm. 7 + Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng. Trách nhiệm của người giao nhận Theo Văn bản quốc tế FIATA (2019), Điều 7.
Trách nhiệm của Người giao nhận vận tải với tư cách là Người vận chuyển. Người giao nhận hàng hóa phải chịu trách nhiệm với tư cách là người ủy thác không chỉ khi họ thực sự thực hiện tự vận chuyển bằng phương tiện vận tải của mình (thực hiện Người vận chuyển), nhưng cũng nếu, bằng cách phát hành chứng từ vận chuyển của riêng mình hoặc bằng cách khác, họ đã thực hiện một chuyển phát nhanh hoặc ngụ ý cam kết chịu trách nhiệm của Người vận chuyển (Người vận chuyển theo hợp đồng). Theo Nguyễn Xuân Quyết (2017), Dù ở địa vị đại lý hay người ủy thác ngươi giao nhận cũng phải chăm sóc chu đáo hàng hóa được ủy thác, được thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng về những vấn đề có liên quan đến vận tải hàng hóa: - Khi đóng vai trò là đại lý, người giao nhận chịu trách nhiệm do lỗi lầm sai sót của bản thân mình và những người dưới quyền.