Chương 1 CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG 1. Cơ sở để Trung Quốc hoạch định chính sách đối với Tiểu vùng sông Mê Kông 1. Vị trí, vai trò của Tiểu vùng sông Mê Kông Về địa chính trị: Sông Mê Kông dài khoảng 4.880 km bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng ở Trung Quốc và đổ ra Biển Đông. Đây là một trong những hệ thống sông lớn nhất thế giới, chảy qua 6 nước: Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.
Tiểu vùng sông Mê Kông có vị trí địa chiến lược quan trọng trong khu vực, một trong những cửa ngõ án ngữ đường hàng hải nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, thông thương giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á, là “giao điểm” của một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới; đồng thời là khu vực giàu tiềm năng phát triển kinh tế với những nền kinh tế năng động và nhu cầu cao về đầu tư, thương mại, phát triển kết cấu hạ tầng. Khu vực này là địa bàn kết nối các nền kinh tế, các thị trường lớn đang phát triển mạnh mẽ của thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á hải đảo. Sức hấp dẫn từ vị trí chiến lược và tiềm năng của Tiểu vùng sông Mê Kông gần đây đã thu hút sự chú ý của các cường quốc trong khu vực và thế giới, nhất là các nước lớn. Các nước thuộc Tiểu vùng không chỉ chia sẻ chung dòng sông Mê Kông mà còn có nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội và lịch sử.
Đây chính là nền tảng, cơ sở hình thành một cách tự nhiên những mối quan hệ đa dạng, đa chiều trong lịch sử quan hệ giữa các nước ở Tiểu vùng; là cơ sở vững chắc và lâu bền trong quan hệ, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc trong Tiểu vùng, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế ở giai đoạn hiện tại c ng như trong tương lai. Hơn nữa, đây là khu vực bắt đầu của Con đường Tơ lụa trên biển thế kỷ XXI của Trung Quốc, khu vực có tiềm năng kết nối với Vành đai kinh tế con đường tơ lụa qua trục Trung Quốc - ASEAN. Nếu kiểm soát được nơi 14 đây, Trung Quốc sẽ kiểm soát được các tuyến đường bộ và đường sông thuận tiện và ngắn nhất để tiếp cận với Ấn Độ Dương qua Myanmar thay cho qua Biển Đông và eo biển Malacca, để tới Trung Đông, nơi cung cấp nguồn dầu m lớn nhất cho Trung Quốc. Kiểm soát được khu vực này c ng có nghĩa đặc biệt quan trọng để Trung Quốc vươn ra Thái Bình Dương, hạn chế những tác động tiêu cực từ liên minh Mỹ - Nhật và sự gia tăng tranh chấp ở Biển Đông.
Về địa kinh tế: Với dân số khoảng 250 triệu người, trong đó 40% dân số thuộc độ tuổi dưới 25, Tiểu vùng sông Mê Kông được xem là một thị trường tiềm năng. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và sự mở rộng của các ngành sản xuất công nghiệp nhẹ đang đưa các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông đến gần hơn với trung tâm của chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu. Tiểu vùng sông Mê Kông có tiềm năng kinh tế rất lớn với trữ lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú,từ tài nguyên khoáng sản đến năng lượng. Bên cạnh đó, sông Mê Kông với chiều dài hơn 4.800 km - dài nhất khu vực Đông Nam Á - là con sông đóng vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hơn 60 triệu người dân sinh sống quanh khu vực lưu vực sông, nhất là nguồn lợi về thủy sản, thủy điện và giao thông đường thủy.
Tiểu vùng sông Mê Kông có thế mạnh đặc biệt về sản xuất nông nghiệp và đóng vai trò là vựa lúa lớn nhất của thế giới. Theo ước tính, ngư trường ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông đem lại giá trị kinh tế khoảng 17 tỷ USD/năm. Từ thế kỷ VII, eo biển Malacca đã vươn lên trở thành trung tâm thương mại lớn nhất Đông Nam Á, nắm giữ vị trí trọng yếu trong hệ thống thương mại Đông - Tây. Hằng năm, khoảng 1/3 số lượng hàng vận chuyển trên thế giới đi qua eo biển này.
Mỗi ngày, có hơn 10 triệu thùng dầu thô chở từ Trung Đông đi qua eo biển Malacca tới Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Theo ước tính có khoảng 70 - 80% sản lượng dầu thô nhập khẩu của Nhật Bản và Trung Quốc đi qua tuyến đường này. Bên cạnh đó, các nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều xuất khẩu các sản phẩm dệt may, quần áo, đồ điện tử, ô tô và thực phẩm… qua eo biển Malacca [20]. Do vậy, các cường quốc trên thế giới đều đặc biệt coi trọng giá trị địa - kinh tế của 15 Tiểu vùng sông Mê Kông, c ng như vị trí chiến lược của eo biển này.
Ngoài ra, Biển Đông là trọng điểm chiến lược, không gian phát triển và an ninh, chiếm vị trí địa chính trị, địa kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia trong và ngoài khu vực. Biển Đông nằm ở tuyến hằng hải huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, chấu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á, đóng vai trò quan trọng trong thương mại đường biển toàn cấu. Hàng hóa được vận chuyển qua Biển Đông mỗi năm giá trị ước tính khoảng 5,3 nghìn tỷ USD. Theo thống kê của cơ quan năng lượng Mỹ, 1/3 sản lượng dầu thô và hơn 1/2 lượng khí hóa l ng được trung chuyển qua Biển Đông [21, tr.
Biển Đông còn là một trong những trung tâm đa dạng sinh học biển hàng đầu thế giới. Theo thống kê của các tổ chức môi trường thế giới, Biển Đông tập trung 12% tổng diện tích rừng ngập mặn của thế giới và 30% tổng diện tích rừng ngập mặn của châu Á. Biển Đông chiếm tới 20% tổng diện tích rạn san hô của thế giới, 34% tổng diện tích rạn san hô của Đông Nam Á. Về nguồn lợi hải sản, theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Biển Đông đứng thứ 4 trong số 19 khu có sản lượng đánh bắt cá hằng năm cao nhất thế giới [21, tr.
Bước sang thế kỷ XXI, cùng với tiến trình toàn cầu hóa, liên kết hóa và đổi mới kinh tế, các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông đã đạt được nhiều thành tựu phát triển và trở thành địa điểm hấp dẫn, thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, không chỉ là các dự án đầu tư mang hướng xuất khẩu nhằm tận dụng lợi thế nguồn lao động dồi dào, giá rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú mà còn là các dự án mang tính chất thay thế nhập khẩu, nhằm khai thác tại chính các thị trường đầy tiềm năng ở các nước này. Đây là khu vực có vai trò kết nối các nền kinh tế năng động, thị trường lớn của châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN), là địa bàn then chốt để triển khai các sáng kiến liên kết, hợp tác kinh tế do Trung Quốc dẫn dắt như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (RCEP), sáng kiến BRI. Ngoài ra, đây còn là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân lực dồi dào, thuận lợi cho giao 16 thương, tạo nên giá trị địa kinh tế của khu vực, vị thế chiến lược trong hợp tác và cạnh tranh quốc tế trên lĩnh vực kinh tế giữa các cường quốc khu vực và thế giới. Trong đó, nổi bật nhất là tài nguyên nước để phát triển thủy điện.
Hiện nay, Tiểu vùng Mê Kông đang trở thành một bộ phận quan trọng trong quá trình liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế, là địa bàn kết nối các nền kinh tế, các thị trường lớn đang phát triển mạnh của thế giới, như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á. Sức hấp dẫn từ vị trí địa kinh tế của Tiểu vùng Mê Kông đã, đang thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới. Bởi vậy, Trung Quốc tăng cường liên kết kinh tế với Tiểu vùng sông Mê Kông để hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Về địa quân sự: Tiểu vùng sông Mê Kông có giá trị chiến lược về an ninh, quân sự, bởi nó án ngữ con đường từ lục địa Ấn Độ, Trung Quốc ra Biển Đông.
Không gian Mê Kông nằm sát Biển Đông, kết hợp với hệ thống các đảo, quần đảo ở Biển Đông tạo thành thế chiến lược quân sự quan trọng, kiểm soát toàn bộ khu vực. Trung Quốc muốn biến sông Mê Kông thành tuyến đường ra Biển Đông, củng cố thế trận liên hoàn giữa lục địa Đông Nam Á với Biển Đông, bảo đảm an ninh, lợi ích và tạo ra “phên dậu” vững chắc, bảo vệ lãnh thổ Trung Quốc từ phía Nam; thúc đẩy hợp tác với Tiểu vùng sông Mê Kông để củng cố an ninh khu vực Tây Nam. Do có vị trí địa chiến lược quan trọng, là địa bàn trọng yếu để bảo vệ an ninh và mở rộng ảnh hưởng, nên Trung Quốc sớm có các chính sách nhằm lôi kéo các nước và gia tăng ảnh hưởng ở khu vực này. Về đị văn ó : Tiểu vùng sông Mê Kông mang những nét văn hóa của nền văn minh lúa nước, có sự tiếp biến của văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa.
Cơ sở chung của nền văn minh lúa nước là nông nghiệp trồng lúa nước, là văn hóa xóm làng. Nhờ vào các cuộc giao thương hàng hóa bằng đường biển với các nước ngoài khu vực, các nước Đông Nam Á lục địa đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa mà đặc trưng là văn hóa Hán một cách chủ động và có chọn lọc, phù hợp với phong tục, tập quán và lối sống riêng 17 của từng dân tộc. Sự tiếp nhận này chủ yếu là từ tôn giáo (Hindu, Hồi giáo, Nho giáo, Phật giáo). Trong đó, Phật giáo có mặt ở tất cả các nước Tiểu vùng Mê Kông, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân.
Việc có cùng niềm tin tôn giáo hoặc gần g i về đức tin là cơ sở quan trọng để tổ chức các hoạt động du lịch kết nối tâm linh trong phạm vi liên quốc gia, từ đó củng cố và phát triển mối đoàn kết các dân tộc cùng sinh sống trong khu vực Tiểu vùng. Do có sự gần g i, giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, các quốc gia trong Tiểu vùng nên Trung Quốc đang ra sức mở rộng quyền lực mềm, xuất khẩu giá trị văn hóa mang bản sắc Trung Quốc đến các quốc gia Tiểu vùng sông Mê Kông.