Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - THÁI LAN TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO 1. Quan điểm tiếp cận về quan hệ đối tác chiến lược Trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, dưới góc nhìn chính trị học, quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh, người ta thường phân định ra thành bốn cấp độ từ thấp đến cao lần lượt là: Đối tác (Partnership) - Đối tác toàn diện (Comprehensive Partnership) - Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) - Đối tác hợp tác chiến lược (Cooperation Strategic Partnership) và mức cao nhất là Đối tác chiến lược toàn diện (Comprehensively Strategic Partnership). Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung.
Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác”[43]. Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung. Hợp tác (Cooperation): theo các học giả khoa học chính trị Mỹ Robert Axelrod và Robert O.
Keohane, sự hợp tác diễn ra khi các chủ thể điều chỉnh hành vi của họ trước các mong muốn thực tế hoặc dự đoán về mong muốn của những người khác. Sự hợp tác không đồng nghĩa với sự hài hòa. Sự hài hòa đòi hỏi sự đồng nhất hoàn toàn của các lợi ích. Sự hợp tác diễn ra trong bối cảnh chứa đựng nhiều mâu thuẫn đối ngược và bổ sung nhau [10, tr.
8 Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan đến các lĩnh vực an ninh - quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh - quân sự. Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh - quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win - win” cùng có lợi).
Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự. Đối tác chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”. Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm chung về quan hệ Đối tác chiến lược để thể hiện đầy đủ nội hàm, mục đích, ý nghĩa của nó.
Từ nhận thức và trong quá trình nghiên cứu, có thể thấy, đây là một khái niệm tương đối mới mẻ với nội hàm chứa đựng nhiều vấn đề cần nhận thức chuẩn xác. Tuy vậy, trong khuôn khổ một đề án Chính trị học, chúng tôi mạnh dạn trình bày quan điểm của mình về vấn đề này như sau: Quan hệ đối tác chiến lược là một hình thức quan hệ quốc tế, phản ánh nguyện vọng của các chủ thể khi tham gia vào khuôn khổ quan hệ này. Nó thể hiện cam kết cao hơn mối quan hệ song phương thông thường nhưng chưa 9 đến mức hình thành một liên minh quân sự. Đồng thời là thước đo mức độ ràng buộc, đan xen lợi ích giữa các chủ thể quan hệ quốc tế.
Tóm lại, trong giới hạn nghiên cứu của một Đề án, quan hệ “Đối tác chiến lược trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao” giữa Việt Nam và Thái Lan là thuật ngữ chỉ mối quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai quốc gia mang tính chất toàn cục, then chốt và có giá trị lâu dài với thời gian. Mối quan hệ này gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi có thể bao gồm cả lĩnh vực an ninh, quân sự. Nhân tố khách quan 1. Bối cảnh quốc tế Thứ nhất, những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Cùng với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng 4.0), thế giới đang có những chuyển biến về mọi mặt, như cơ cấu và phương thức sản xuất - kinh doanh; sự vận hành của hệ thống tài chính - tiền tệ; cơ cấu và chất lượng lao động; phương cách làm việc và lối sống của con người; phương tiện và phương thức bảo đảm quốc phòng - an ninh.
Tuy nhiên, cuộc Cách mạng 4.0 cũng đặt ra cho nhân loại nhiều thách thức. Đó là sự bất bình đẳng, là việc phá vỡ thị trường lao động, tình trạng thất nghiệp khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, và trong nhiều lĩnh vực. Cùng với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, toàn cầu hóa góp phần thúc đẩy, phát triển các ngành kinh tế cũng như kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới thông qua quá trình mở rộng thị trường, buôn bán, giảm bớt sức ép về thuế. Bên cạnh những lợi ích, toàn cầu hóa cũng mang lại những tiêu cực như: Làm trầm trọng thêm sự bất công của xã hội, khoảng cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước, hoặc tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và xâm phạm nền độc lập tự chủ của các quốc gia.
10 Như vậy, trước bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế mở cửa, giao lưu và hội nhập đã trở thành nhu cầu cấp thiết của các quốc gia. Hơn thế nữa, tác động của cuộc Cách mạng 4.0 đòi hỏi các quốc gia cần chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác về mọi mặt, để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trước một thế giới đang trải qua một thời kỳ có nhiều biến động phức tạp và khó lường. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh kiềm chế lẫn nhau quyết liệt, giành vị thế và lợi ích gây ra tình hình phức tạp tại nhiều khu vực [49].
Thế giới cũng đang phải đối mặt với những xung đột tiềm ẩn chiến tranh giữa các nước, vấn đề biến đổi khí hậu; sự cạn kiệt nguồn lực, dịch bệnh, đói nghèo…Tất cả điều này đặt ra cho mỗi quốc gia, một sự lựa chọn thông minh để để tận dụng cơ hội vượt qua thách thức [31]. Thứ hai, vị thế và ảnh hưởng của Mỹ với thế giới ít nhiều suy giảm cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc Cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, đã dẫn tới sự xáo trộn quyền lực trên phạm vi toàn cầu. Vị thế số 1 của Mỹ bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự phát triển của Trung Quốc. Đã có ít nhiều sự chuyển dịch trọng tâm quyền lực từ Tây sang Đông và dẫn tới sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Sự chuyển dịch này đã và đang tác động đến quan hệ quốc tế, làm cho cục diện thế giới theo hướng đa cực diễn ra nhanh hơn. Trong bối cảnh như vậy, sự cạnh tranh, điều chỉnh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, quyết liệt, tác động sâu rộng đến an ninh, chính trị thế giới [31]. Sự cạnh tranh sức mạnh giữa các Cường quốc nói trên đó là cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất là Mỹ và Trung Quốc vẫn đang diễn ra từ năm 2018 đến nay. Năm 2020, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và Thái Lan vì cả hai đều là hai đối tác thương mại lớn của Trung Quốc 11 và Mỹ.
Quan hệ Mỹ - Trung vẫn đang ẩn chứa nhiều biến số khó lường. Thậm chí ngay trong cơn đại dịch COVID-19 diễn ra trên toàn cầu, hai nước vẫn có những phát ngôn và hành động đáp trả như đóng cửa lãnh sự quán của nhau. Đối với Liên minh châu Âu (EU), trong những năm qua EU tập trung nhiều vào giải quyết các vấn đề nội bộ như Brexit của nước Anh, khủng hoảng nợ công, khủng hoảng nhập cư, phòng chống khủng bố quốc tế. Vì vậy, sự quan tâm và nguồn lực dành cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương có chiều hướng giảm đi.
Tuy nhiên, EU vẫn duy trì quan hệ với các đối tác ở các khu vực khác trong đó có ASEAN. Điểm sáng nhất về những thỏa thuận kinh tế đạt được giữa Việt Nam và Thái Lan với EU trong thời gian qua là Hiệp định Thương mại tự do FTA (Việt Nam đã hoàn tất, Thái Lan đang trong quá trình đám phán). Sự trỗi dậy của Trung Quốc là điểm nhấn mang tính bước ngoặt của trật tự quyền lực ở Đông Á và quyền lực toàn cầu. Điều này đã tác động mạnh đến chính sách và chiến lược của các nước lớn cũng như các quốc gia khu vực ASEAN.
Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng vượt bậc khi so sánh với nhiều quốc gia cùng khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc. Từ năm 2010, Trung Quốc chính thức thay thế Nhật Bản để trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới về kinh tế. Trung Quốc với sức mạnh được tăng lên sau nhiều năm phát triển, đang mở rộng không gian chiến lược để khẳng định vị thế cường quốc khu vực và quốc tế. Để hiện thực hóa “giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp chiến lược, như tăng cường thực lực quân sự, chú trọng phát triển nhanh chóng lực lượng hải quân nhằm mở rộng tầm hoạt động, gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Đông Á, từng bước cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương.