CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUAN HỆ KINH TẾ ẤN ĐỘ - VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận quan hệ giữa hai quốc gia 1. Quan hệ giữa hai quốc gia theo lý thuyết quan hệ quốc tế 1. Cấu trúc, môi trường quốc tế có tác động đáng kể đến cách nhìn nhận về lợi ích và hành xử của các quốc gia, qua đó tác động đến quan hệ giữa các quốc gia.
Chủ nghĩa tân hiện thực nhấn mạnh tác động của yếu tố cấu trúc, môi trường quốc tế đến cách hành xử và qua đó tác động đến quan hệ giữa các quốc gia. Theo Kenneth Neal Waltz, bản chất của chính trị quốc tế không phải là đấu tranh cho quyền lực như hầu hết các nhà hiện thực cổ điển lập luận, mà là an ninh. Do đó, các quốc gia không phải tối đa hóa quyền lực, mà là tối đa hóa an ninh, nghĩa là mục tiêu cuối cùng của các quốc gia là theo đuổi an ninh hơn là quyền lực. Quyền lực là một công cụ hữu ích để tối đa hóa an ninh trong chính trị quốc tế [49].
Waltz cho rằng, cạnh tranh và xung đột giữa các quốc gia không chỉ đơn giản là kết quả của bản chất con người, mà còn do vấn đề phân bổ quyền lực giữa các quốc gia và không có cơ chế quyền lực cao hơn quốc gia để điều chỉnh hành vi của quốc gia trong môi trường quốc tế [50]. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của nhân tố hệ thống trong chính trị quốc tế. Mọi mối quan hệ quốc tế cần phải được nhìn nhận trong bối cảnh của hệ thống quốc tế trong từng giai đoạn lịch sử với những đặc trưng và tác động nhất định. Waltz, hệ thống quốc tế được cấu thành từ những quốc gia có chủ quyền và sự tương tác giữa các quốc gia này.
Các quốc gia phải tự đảm bảo an ninh của mình trước sự đe dọa từ bên ngoài bằng cách cân bằng lực lượng [51]. Các quốc gia phải tìm đồng minh/đối tác nhằm theo đuổi những lợi ích riêng và chia sẻ những lợi ích chung, trung lập những đối thủ tiềm tàng và chia rẽ nội bộ đối phương. Sự hợp tác đó là vì lý do an ninh và cân bằng quyền lực. Đó là nội hàm của hợp tác giữa các nước, đặc biệt trong bối cảnh xuất hiện sự trỗi dậy của một cường quốc đe dọa an ninh của các quốc gia khác, 15 của khu vực và thế giới [49].
Logic cân bằng quyền lực thường dẫn tới việc hình thành liên minh giữa các nước và hợp tác chống kẻ thù chung. Hợp tác phản ánh sự phân chia quyền lực và diễn ra khi giữa các bên không có nhiều nghi kỵ. Như vậy, theo luận điểm của của chủ nghĩa hiện thực, lợi ích quốc gia, đặc biệt là lợi ích an ninh và các yếu tố bên ngoài như cục diện thế giới, khu vực, sự phân bổ quyền lực, tập hợp lực lượng trong hệ thống quốc tế có ảnh hưởng, tác động mạnh đến quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của các quốc gia, từ đó tác động tới quan hệ giữa các quốc gia. Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển hoàn toàn biệt lập với thế giới bên ngoài, ngược lại, mọi quốc gia đều chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp từ các nhân tố bên ngoài và môi trường xung quanh.
Lợi ích phát triển kinh tế là cơ sở hợp tác giữa các quốc gia. Không phủ nhận luận điểm của chủ nghĩa hiện thực coi quốc gia là chủ thể quan trọng nhất, nhưng theo chủ nghĩa tự do, quốc gia không phải là chủ thể duy nhất. Bên cạnh quốc gia còn các chủ thể phi quốc gia, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Sự tham gia của các chủ thể phi quốc gia làm gia tăng sự đan xen lợi ích trong quan hệ quốc tế.
Các chủ thể phi quốc gia có lợi ích và quan niệm không hoàn toàn giống với lợi ích của quốc gia, chủ yếu theo đuổi hòa bình và hợp tác. Theo đó, các nhân tố phi quốc gia có vai trò đáng kể, tác động đến quá trình hoạch định và sự lựa chọn chính sách đối ngoại của các quốc gia theo hướng gia tăng hợp tác. Khác với chủ nghĩa hiện thực, những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng, bản chất con người chứa đựng những khía cạnh tích cực và con người là sinh vật có lý trí để nhận biết ích lợi của sự hợp tác thay vì xung đột. Những lợi ích chung và các ý tưởng tốt nhất sẽ giúp hình thành nên tính hướng đích chung trong quan hệ và những mẫu số chung trong tương tác.
Chủ nghĩa tự do cho rằng, hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích giữa người với người, từ đó đưa tới khả năng hòa hợp lợi ích giữa các quốc gia với nhau. Chính khả năng hòa hợp lợi ích này góp phần quy định xu hướng hợp tác trong quan hệ quốc tế [32]. 16 Hợp tác có thể được thực hiện trên cơ sở giữa các chủ thể có những tương đồng nhất định, có thể diễn ra trong một vấn đề cụ thể nào đó, có thể tiến hành trong lĩnh vực này bất chấp đang tồn tại xung đột trong lĩnh vực khác. Thậm chí, hợp tác và cạnh tranh vẫn có thể tồn tại trong cùng một vấn đề.
Hợp tác sẽ ngày càng tăng, dần thay cho xung đột và trở thành xu hướng phát triển chính trong quan hệ quốc tế bởi xuất phát từ những nhu cầu, mong muốn của nhân loại, đó là hòa bình, thịnh vượng, dân chủ tự do, phát triển kinh tế thị trường, thúc đẩy luật pháp quốc tế, mở rộng thể chế quốc tế… Lợi ích đạt được từ hợp tác có thể ở những mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn nhiều hơn so với không hợp tác và tiếp tục xung đột [32]. Chủ nghĩa tự do lập luận rằng, “lực lượng kinh tế và công nghệ” khiến các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, tạo nên một dạng quyền lực quan trọng trong quan hệ quốc tế [30]. Theo đó, bản chất quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các quốc gia nói riêng không phải chỉ có xung đột quyền lợi riêng, mà còn có cả hợp tác trên cơ sở hài hòa lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Richard Rosecrance đã coi sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế là tăng cường hợp tác quốc tế và giảm khả năng xảy ra chiến tranh, đặc biệt khi nền kinh tế thế giới đang tiến tới một hệ thống tập trung vào vốn và tri thức [232].
Vì thế, hợp tác vì mục tiêu phát triển, đặc biệt là kinh tế sẽ tiếp tục được lựa chọn thay vì xung đột hay không hợp tác. Sự phụ thuộc lẫn nhau và tham gia vào các thể chế thúc đẩy nhu cầu, khả năng hợp tác giữa các quốc gia. Thuyết thể chế tự do (tân tự do) tập trung vào vai trò của thể chế trong quan hệ quốc tế. Xu thế hợp tác phát triển không chỉ ở bề rộng, mà còn cả bề sâu với sự phát triển của hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế là quá trình kết hợp các quốc gia riêng rẽ vào một dạng thể chế mới trên cơ sở đảm bảo lợi ích cơ bản của quốc gia [31]. Đó chính là hình thức hợp tác sâu sắc hơn, chặt chẽ hơn cả về mức độ gắn kết và thể chế hóa. Trong công trình nghiên cứu của mình, các học giả Robert Axelrod và Robert O. Keohane và Joseph S.
Các thể chế với vai trò trung gian tạo ra một sân chơi chung, khuyến khích sự tương tác/hợp tác giữa các quốc gia. Lợi ích chung giữa các quốc gia có khả năng giảm thiểu sự khác biệt và mở đường cho sự hợp tác bền vững. Thể chế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế tình trạng vô chính phủ hoặc sự chi phối bởi chủ nghĩa bá quyền trong quan hệ quốc tế. Các thể chế có thể: (i) cung cấp thông tin cho các bên, qua đó giúp họ phần nào hiểu rõ nhau hơn và có thể xây dựng các kỳ vọng về hành vi của nhau; (ii) giúp giảm chi phí giao dịch trong quá trình giải quyết các vấn đề chung; (iii) giúp tạo ra một khuôn khổ mang tính pháp lý để điều chỉnh hành vi của mỗi chủ thể tham gia quan hệ quốc tế.
Chính vì vậy, việc hình thành, theo đuổi và giải quyết công việc thông qua các thể chế hay luật pháp quốc tế là một cách tiếp cận giúp tiến tới mô hình quản trị toàn cầu. Việc hình thành các thể chế quốc tế cũng thể hiện mong muốn của cộng đồng thế giới trong việc tạo ra một khung ứng xử cho các mối quan hệ quốc tế với nền tảng là luật pháp quốc tế và các chuẩn tắc, thay vì sức mạnh hay vũ lực. Hội nhập quốc tế là kết quả của hợp tác và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, đồng thời có tác động trở lại thu hút các quốc gia tham gia với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Chủ nghĩa tân tự do cũng thừa nhận sự tồn tại của hệ thống quốc tế, nhưng không chú trọng đến cơ cấu của hệ thống như chủ nghĩa tân hiện thực, mà chủ yếu quan tâm đến sự tương tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế trong việc hình thành hệ thống và ảnh hưởng đến nhau bên trong hệ thống.
Keohan và Joseph Nye nhấn mạnh đến thuyết tùy thuộc lẫn nhau, coi hệ thống như một quá trình tương tác ngày càng tăng và đạt đến sự phụ thuộc lẫn nhau [23]. Trong hệ thống phụ thuộc lẫn nhau này, bản chất của các mối quan hệ quốc tế đã được thay đổi theo hướng ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về mọi mặt, đặc biệt là kinh tế. Các chủ thể rất dễ bị tác động cũng như dễ bị tổn thương bởi hành vi của chủ thể khác. Vì thế, các chủ thể buộc phải điều chỉnh hành vi cho phù hợp với hệ thống.
18 Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này cho rằng, hợp tác giữa các quốc gia được xúc tiến khi các bên nhận thức được mối đe dọa chung hoặc để đối phó với những mối đe dọa như khủng bố, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, khủng hoảng kinh tế… (gọi chung là các vấn đề an ninh phi truyền thống), mà không một quốc gia nào dù mạnh nhất có thể đơn phương giải quyết. Trong hệ thống phụ thuộc lẫn nhau này, các quốc gia hợp tác vì lợi ích chung và kết quả trực tiếp của sự hợp tác này là sự thịnh vượng và ổn định trong hệ thống quốc tế.